TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2024/DS-ST
Ngày: 22 - 5 - 2024
V/v tranh chấp về quyền sử dụng đất;
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Nội.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Phượng.
- Bà Chung Thị Thu Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 35/2023/TLST- DS, ngày 22 tháng 02 năm 2023 về “tranh chấp về quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXX-ST ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 56/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Kim L, sinh năm: 1951; Địa chỉ: Số G, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng ThápTháp.
* Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Cẩm T, sinh năm: 1985; Địa chỉ: F, khóm B, TT. L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, là đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 07/7/2022) (có mặt).
- Bị đơn: Cụ Hồ Ngọc C, sinh năm: 1932; Địa chỉ: Số E, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
* Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Đoàn Ngọc L1, sinh năm: 1963; Địa chỉ: Số C, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, là đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 06/7/2021) (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Phạm Hùng T1, sinh năm: 1981. (có mặt)
- Chị Ngô Thị Mỹ H, sinh năm: 1995. (có mặt)
Cùng địa chỉ: Số G, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bà Đoàn Thị Ngọc H1, sinh năm: 1956; Địa chỉ: Số D, khu vực L, thị trấn T, quận T, thành phố Cần Thơ (có đơn xin vắng mặt).
- Bà Chung Bích N, sinh năm: 1956 (có đơn xin vắng mặt).
- Anh Đoàn Ngọc T2, sinh năm: 1983. (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số F, đường H, khu dân cư A, tổ A, ấp B, xã A, huyện B, TP.
- Bà Đoàn Thị Ngọc H2, sinh năm: 1961; Địa chỉ: Số D, T, khóm C, phường C B, thành phố C, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Ông Đoàn Ngọc T3, sinh năm: 1966; Địa chỉ: Số H, đường M, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Bà Đoàn Thị Ngọc T4, sinh năm: 1968; Địa chỉ: Số A, khóm A, TT. L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin vắng mặt).
- Ông Đoàn Ngọc H3, sinh năm: 1971; Địa chỉ: ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (có đơn xin vắng mặt).
- Ông Đoàn Ngọc L1, sinh năm: 1963, Địa chỉ: Số C, ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Hồ Thị Kim L do chị Huỳnh Thị Cẩm T đại diện trình bày: Nguyên bà Hồ Thị Kim L là cán bộ Y tế xã Đ, công tác Trạm Y tế xã từ năm 1976, đến năm 1978, ông Sáu G là Bí thư xã có viết tờ giấy cho bà L một diện tích đất để cất nhà ở trên diện tích đất của Trạm Y tế và bà L cất nhà ở trên diện tích đất nay là thửa đất số 126, tờ bản đồ 60, có diện tích là 123,1m², đất tọa lạc ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi tách xã thì đến năm 1997, Trạm Y tế di dời về xã Đ, gia đình bà L vẫn ở trên diện tích đất này đến nay và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. Quá trình sử dụng đất bà L đã sửa chữa nhà nhiều lần và đã xây dựng nhà kiên cố nhưng phía gia đình cụ C cũng không có ai ra tranh cản.
Do trước đó chưa làm thủ tục cấp giấy nên vào ngày 16/9/2020 bà L có đến Văn phòng đăng ký đất đai huyện L để yêu cầu đo đạc để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất thửa đất số 126, tờ bản đồ 60, có diện tích 123,1m², đất tọa lạc ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Thủ tục cấp giấy phải có những hộ liền kề ký giáp ranh trong đó có hộ cụ C. Khi bà L cắm trụ đá làm móc ranh giới và yêu cầu cụ C xác nhận thì cụ C nói toàn bộ phần đất mà bà L đang làm thủ tục cấp giấy và ở từ năm 1978 đến nay là của cụ C nên không ký tên để bà L làm thủ tục cấp giấy nên có khiếu nại ra UBND xã. Đến ngày 31/12/2020, UBND xã Đ tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Nay bà L yêu cầu Tòa án giải quyết xác định phần diện tích đất tại thửa đất số 126, tờ bản đồ 60, đo đạc thực tế có diện tích 123,1m², trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4 về M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 04/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, đất tọa lạc ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là của bà L và bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì gia đình bà L sử dụng từ trước đến nay và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Bà L không đồng ý trả thành quả lao động theo như yêu cầu của ông L1, vì phần diện tích đất này từ năm 1978 bà L quản lý, sử dụng, gia đình cụ C không lần nào sử dụng nên cũng không có công trong việc quản lý hay tôn tạo gì.
Ông Nguyễn Ngọc L2 là đại diện theo ủy quyền của cụ C đồng thời cũng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Phần diện tích đất mà bà L hiện nay đang tranh chấp có nguồn gốc là của cha mẹ của ông L2, cha tên Đoàn Ngọc Á (cụ Á chết năm 2007) và mẹ Hồ Ngọc C. Trước năm 1975, cụ Á có hiến một diện tích đất cho nhà bảo sanh Đ. Diện tích đất mà cụ Á hiến không nói diện tích là bao nhiêu nhưng trong đó có phần đất mà hiện nay bà L đang tranh chấp và một phần đất bà T5 sử dụng. Việc bà L sử dụng diện tích đất này là do bà L tự bao chiếm để cất nhà ở chứ không phải được cha mẹ của ông L2 cho ở. Sau năm 1975, Ủy ban nhân dân xã tiếp tục sử dụng phần đất mà cụ Á đã hiến để làm Trạm Y tế và nhà thuộc nam, một phần thì bà L và bà T5 sử dụng. Đến năm 2003, ông Đoàn Ngọc H4 (anh của ông L2 nay đã chết) được cụ Đoàn Ngọc Á ủy quyền khởi kiện UBND xã Đ yêu cầu UBND xã trả lại phần đất đã hiến cho gia đình. Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò và Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã xử không chấp nhận yêu cầu của ông H4. Tuy nhiên, phần đất mà Tòa án giải quyết trước đây không phải là phần đất mà hiện nay bà L đang khởi kiện gia đình ông L2 và phần đất bà T5 sử dụng. Phần đất bà T5 sử dụng hiện nay giữa mẹ ông L2 và bà T5 đã thỏa thuận xong không tranh chấp, còn phần đất của bà L thì bà L không đồng ý trả thành quả lao động cho gia đình của ông L2 nên đang tranh chấp. Do đó, ông L2 không đồng ý theo như yêu cầu của bà L mà phần diện tích đất bà L tranh chấp là của cha mẹ ông L2. Tuy nhiên, do gia đình bà L đã sử dụng phần diện tích đất này từ năm 1978 đến nay và cất nhà kiên cố trên đất nên gia đình ông L2 đồng ý cho bà L được tiếp tục quyền quản lý sử dụng nhưng bà L phải có nghĩa vụ trả hoa lợi đất cho cụ C là 150.000.000₫ (một trăm năm mươi triệu đồng) hoặc giá mà Hội đồng định giá đã định theo giá đất thổ cư. Trường hợp không đồng ý trả thành quả lao động thì yêu cầu gia đình bà L phải trả lại đất cho cụ C, phía cụ C và gia đình đồng ý trả tiền công tôn tạo, dìn giữ, bảo quản đất cho gia đình bà L là 200.000.000 đồng và căn nhà mà gia đình bà L mới xây dựng trên đất là 300.000.000 đồng, tổng cộng là 500.000.000đ (Năm trăm triệu đồng). Trường hợp gia đình bà L không đồng ý trả đất để nhận tiền và có khó khăn không có tiền để trả cho cụ C, thì phía cụ C vẫn đồng ý cho gia đình của bà L được tiếp tục sử dụng phần diện tích đất này nhưng không đồng ý cho đứng tên quyền sử dụng đất và cũng không được sang bán, chuyển nhượng cho ai mà chỉ được quyền sử dụng đến khi nào có đất khác để cất nhà ở thì trả lại đất cho cụ C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Hùng T1 trình bày: Anh Phạm Hùng T1 là con ruột của bà Hồ Thị Kim L, anh T1 thống nhất lời trình bày và yêu cầu của mẹ không bổ sung gì thêm. Anh T1 cũng không có yêu cầu gì trong vụ kiện này
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị Mỹ H trình bày: Chị H là vợ của anh Phạm Hùng T1 và là con dâu của bà L. Chị H không có yêu cầu gì trong vụ kiện này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Bà Đoàn Thị Ngọc H2, bà Chung Bích N, Đoàn Thị Ngọc T4, ông Đoàn Ngọc T3, bà Đoàn Thị Ngọc H1, ông Đoàn Ngọc H3 đều có đơn đề nghị xin vắng mặt tại Tòa án và trong đơn trình bày ủy quyền cho ông Đoàn Ngọc L1 giải quyết tranh chấp và anh Đoàn Ngọc T2 cũng có văn bản giao cho ông Đoàn Ngọc L1 toàn quyền giải quyết tranh chấp.
Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm và Thư ký phiên toà từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những yêu cầu, kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng không có. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đoàn Ngọc T2 đã vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mà không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan còn lại đã có đơn xin xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự có căn cứ xác định phần diện tích đất tranh chấp phía nguyên đơn đã sử dụng ổn định, công khai từ năm 1978 cho đến nay nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Xác định phần diện tích đất tại thửa 126, tờ bản đồ số 60 có diện tích 123,1m² trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4 về M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 04/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L là của bà L.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò, Hội đồng xét xử Toà án nhân dân huyện Lấp Vò, nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định diện tích đất qua đo đạc thực tế là 123,1m² là của nguyên đơn nên quan hệ tranh chấp được xác định là tranh chấp quyền sử dụng đất. Phần diện tích đất tranh chấp toạ lạc tại huyện L do đó thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Lấp Vò theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đoàn Ngọc T2 đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đoàn Thị Ngọc H2, bà Chung Bích N, Đoàn Thị Ngọc T4, ông Đoàn Ngọc T3, bà Đoàn Thị Ngọc H1, ông Đoàn Ngọc H3 đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Toà án căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Xét yêu cầu của các đương sự thấy:
[2.1] Theo sơ đồ đo đạc ngày 04/7/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L thì phần đất mà bà L yêu cầu Tòa án giải quyết có diện tích qua đo đạc thực tế là 123,1m² trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4 về M1 thuộc thửa đất số 126, tờ bản đồ số 60, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai. Trên diện tích đất tranh chấp bà L có xây dựng một căn nhà có kết cấu khung BTCT, xây tường, tường trong nhà ốp gạch men cao 1,5m, còn lại sơn B, mái lợp tôn sóng vuông, nền lót gạch bông, trần la phong nhựa, cửa gỗ. Trên diện tích đất tranh chấp không có tài sản nào của gia đình cụ C.
[2.2] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự có căn cứ xác định nguồn gốc đất tranh chấp là của cụ Đoàn Ngọc Á và cụ Hồ Ngọc C. Tuy nhiên, từ trước năm 1975 gia đình cụ Á, cụ C đã không còn quản lý, sử dụng đối với diện tích đất này mà Nhà nước sử dụng để làm nhà bảo sanh, từ năm 1978, thì bà L sử dụng để cất nhà ở cho đến nay. Phía bà L trình bày việc bà L được cất nhà trên đất là do được ông Trần Văn G1 là Bí thư xã thời điểm này cho đất để cất nhà ở. Còn phía gia đình của cụ C thì cho rằng việc bà L ở trên đất là do tự bao chiếm chứ không có ai cho cất nhà ở.
[2.3] Xét thấy, mặc dù phần diện tích đất tranh chấp là của cụ Á và cụ C, nhưng phía ông L1 cũng đã thừa nhận từ trước năm 1975 thì cụ Á và cụ C cũng như gia đình đã không sử dụng đất, không thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước và cũng chưa lần nào đi đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo các chương trình đất đai do Chính phủ quy định mà đất UBND xã Đ sử dụng đến năm 1978 thì bà L là người trực tiếp sử dụng đến nay. Quá trình sử dụng đất, bà L đã tôn nền, xây dựng và sửa chữa nhà nhiều lần và đến năm 2022 thì xây dựng nhà kiên cố bê tông cố thép như hiện nay và thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước. Gia đình ông L1, cụ C có phần đất giáp ranh phần đất này, đều biết nhưng không có tranh chấp hay ngăn cản. Tại Điều 236 của Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác".
Tại Công văn số 2968/CNVPĐKĐĐHLV-KTĐC ngày 15/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L cung cấp thông tin: Thửa đất số 126, tờ bản đồ số 60, tại xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hệ thống bản đồ địa chính chính quy, sổ mục kê chưa thể hiện tên chủ sử dụng đất.
Tại Công văn số 1274/UBND ngày 01/11/2023, Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L cung cấp thông tin như sau: Qua đối chiếu bản đồ địa chính chính quy thửa 126, tờ bản đồ số 60, diện tích 123,1m² bà Hồ Thị Kim L cất nhà ở từ năm 1978 đến 2023 do nhà bị hư hỏng nên bà L sửa chữa lại và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Căn cứ vào khoản 1 Điều 20 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai thì hộ gia đình sử dụng đất trước ngày 15/10/1993 được đăng ký đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, trường hợp của bà Hồ Thị Kim L sử dụng liên tục từ năm 1978 đến nay thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
[2.4] Theo tinh thần của Án lệ số 33/2020/AL được Hội đồng Thẩm phán TANDTC thông qua ngày 05 tháng 02 năm 2020 và được công bố theo Quyết định số 50/QĐ-CA ngày 25 tháng 02 năm 2020 của Chánh án TANDTC. Nội dung thể hiện: Cá nhân được Nhà nước cấp đất nhưng không sử dụng mà để người khác quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài từ khi được giao đất. Trong quá trình sử dụng đất, người này đã tôn tạo đất, xây dựng nhà ở ổn định mà người được cấp đất không có ý kiến gì. Trường hợp này, Tòa án không chấp nhận yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất.
[2.5] Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ phù hợp với các điều 180, 182, 183, 221, 236 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xác định phần diện tích đất 123,1m² trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4 về M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 04/7/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Lấp thuộc thửa đất số 126, tờ bản đồ số 60, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là thuộc quyền quản lý, sử dụng của bà Hồ Thị Kim L, theo quy định của pháp luật đất đai thì bà C thuộc trường hợp được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, việc cụ C, ông L1 yêu cầu phía gia đình bà L trả giá trị đất hay trả lại đất là không có căn cứ.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định tại điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, cụ Hồ Ngọc C có đơn xin miễn, giảm án phí do thuộc trường hợp được miễn án phí là người cao tuổi. Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 20/12/2016 miễm án phí cho cụ C.
[4] Về chi phí tố tụng: Số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá là 3.153.290đ (Ba triệu một trăm năm mươi ba nghìn hai trăm chín mươi đồng) phía bà L tự nguyện chịu và đã nộp và chị xong.
[5] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lấp Vò tại phiên tòa là phù hợp như đã phân tích ở trên nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 26, 95, 100, 101, 166, 203 của Luật Đất đai năm 2013;
- Điều 166, 180, 182, 183, 184, 221, 236 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 5, 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228 147, 157, 165, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Án lệ số: 33/2020/AL
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Kim L.
Bà Hồ Thị Kim L được quyền quản lý sử dụng diện tích đất qua đo đạc thực tế là 123,1m², trong phạm vi các mốc M1, M2, M3, M4 về M1 theo sơ đồ đo đạc ngày 04/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L thuộc thửa đất số 126, tờ bản đồ số 60, đất tọa lạc tại xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
(Kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/6/2023 của Tòa án và Sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 04/7/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L).
- Bà Hồ Thị Kim L được đến Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hồ Ngọc C được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chí phí tố tụng: Số tiền xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá là 3.153.290₫ (Ba triệu một trăm năm mươi ba nghìn hai trăm chín mươi đồng) bà L tự nguyện chịu đã nộp và chi xong.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Văn Nội |
Bản án số 34/2024/DS-ST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Số bản án: 34/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
