1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 34/2023/HSST
Ngày 26/9/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông: Lý Đức Hiệp
- - Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Phan Văn Thóc
- 2. Ông: Phạm Anh Tuấn
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông: Lý Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông: Đặng Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26/9/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2023/HSST ngày 08/8/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:34/2023/QĐXXST-HS ngày 14/9/2023 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Lù Văn Nh; Tên gọi khác: Không.
- Sinh năm 1975 tại tỉnh Lai Châu.
- Nơi ĐKNKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Nà Hừ 2, xã Bum Nưa, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 00/12; Dân tộc: Thái.
- Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam
- Con ông: Lù Văn Th (Đã chết) và con bà: Pờ Thị M (Sinh năm 1952).
- Hiện mẹ bị cáo đang sinh sống tại bản Nà Hừ 2, xã Bum Nưa, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Gia đình bị cáo có 06 chị, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
- Bị cáo có vợ, con: Vợ Chim Thị Th - Sinh năm 1975. Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1993, con nhỏ nhất sinh năm 2003.
- Hiện vợ, con bị cáo đang sinh sống tại bản Nà Hừ 2, xã Bum Nưa, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
- Tiền sự: Không.
- Tiền án: Không
- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/5/2023 đến ngày 29/5/2023, chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.
- (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 07 giờ sáng ngày 20/5/2023, Lù Văn Nh đi bộ từ nhà tại bản Nà Hừ 2, xã Bum Nưa, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu lên bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu mục đích tìm mua Heroine để sử dụng. Đến bản Pa Mu, Nh gặp một người phụ nữ dân tộc Mông khoảng 70 tuổi (Nh không rõ nhân thân và lai lịch). Qua trao đổi Nh hỏi và mua được của người phụ nữ dân tộc Mông 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon màu xanh với giá 150.000 đồng. Mua được Heroine Nh cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về. Hồi 08 giờ 40 phút cùng ngày, khi Lù Văn Nh đi về đến đường Quốc lộ 4H, thuộc bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn thì bị tổ công tác Công an huyện Nậm Nhùn phát hiện, bắt quả tang thu gói Heroine trên. Nh khai nhận mục đích tàng trữ Heroine là để sử dụng, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng như đã nêu trên.
Kết luận giám định khối lượng số 25, ngày 20/5/2023 của giám định viên tư pháp theo vụ việc Công an huyện Nậm Nhùn, kết luận: Số chất bột khô màu trắng thu giữ của Lù Văn Nh có khối lượng 0,3 gam. (gửi toàn bộ mẫu vật đi giám định).
Kết luận giám định số 610/GĐ-KTHS ngày 28/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu, kết luận: 01 (một) mẫu chất bột màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. (không hoàn lại mẫu vật giám định).
Tại bản Cáo trạng số: 23/CT-VKS ngày 07 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lù Văn Nh ra trước Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu để xét xử về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 quy định: "Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.
c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Tại phiên tòa hôm nay Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lù Văn Nh theo bản cáo trạng và đưa ra các căn cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ vật chứng đã thu giữ 01 (một) gói chất bột khô màu trắng có tổng khối lượng 0,3 (không phẩy ba) gam là heroine thu giữ của bị cáo cùng các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, vị đại diện VKS khẳng định bị cáo đã phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị HĐXX áp dụng Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và đề nghị Hội
3
đồng xét xử, xử phạt từ 16 tháng đến 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS đối với bị cáo miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo. Đề nghị buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Về phía bị cáo, tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai và bị cáo không có ý kiên tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định của Cơ quan điều tra huyện Nậm nhùn, Điều tra viên. Cơ quan Viện kiểm sát huyện Nậm nhùn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng, bị cáo thừa nhận đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội không oan sai.
*Về lời khai của bị cáo: Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa ngày hôm nay bị cáo khai nhận rằng: Khi khai nhận trước Cơ quan điều tra, bị cáo không hề bị bức cung, nhục hình; các biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, bị cáo được nghe đọc lại và điểm chỉ, bị cáo thừa nhận đã tàng trữ trái phép tổng khối lượng 0,3 (không phẩy ba) gam heroine là để sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử thấy rằng lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra là tự nguyện, khách quan; biên bản, tài liệu điều tra được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
* Xét quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và ý kiến của bị cáo HĐXX thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn tham gia phiên tòa đã đưa ra các căn cứ chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ, căn cứ kết quả mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu vật gửi giám định. Kết luận giám định số 610/KL-KTHS ngày 28/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lai Châu đối với mẫu vật thu giữ của bị cáo Nh gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Các lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bởi vì những quan điểm này phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được thu thập khách quan có trong hồ sơ vụ án cùng lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đã cho thấy: Hồi 08 giờ 40 phút, ngày 20/5/2023, tại Quốc lộ 4H thuộc
4
bản Pa Mu, xã Hua Bum, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Lù Văn Nh đã tàng trữ trái phép Heroine có khối lượng 0,3 gam, với mục đích để sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Nậm Nhùn phát hiện bắt quả tang, thu giữ. Do đó Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Lù Văn Nh phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đều thành khẩn khai báo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, không đi học nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, với những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên vì vậy khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cần xem xét hành vi phạm tội với tính chất của bị cáo đã gây ra, gây bức xúc cho nhân dân tại địa phương, coi thường pháp luật. Với khối lượng ma túy 0,3 gam của bị cáo tàng trữ việc đề nghị của VKS xử phạt bị cáo từ 16 tháng đến 20 tháng tù, HĐXX xét thấy chưa phù hợp cần có một mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của VKS để tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định và cũng là bài học cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, để cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Không
[6] Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- - 0,3 gam Heroine thu giữ của Lù Văn Nh gửi giám định toàn bộ, không hoàn lại mẫu vật;
- - Vỏ bì, mảnh nilon, phong bì còn lại sau khi mở niêm phong vật chứng, đã được niêm phong lại trong một phong bì do Công an huyện Nậm Nhùn phát hành, chuyển vào hồ sơ vụ án.
[7] Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ đều cho thấy bị cáo làm ruộng, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử xét miễn hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Xét bị cáo không thuộc hộ nghèo, cận nghèo và để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
5
Trong vụ án này: Kết quả điều tra không xác định được lai lịch của người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho Lù Văn Nh, nên không có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật. Vậy HĐXX không đặt vấn đề giải quyết vấn đề nêu trên.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo: Lù Văn Nh phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS.
Xử phạt bị cáo 01(một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 20/5/2023.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự miễn hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 BLTTHS và Áp dụng điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 BLTTHS./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Lý Đức Hiệp |
Bản án số 34/2023/HSST ngày 26/09/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 34/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án Lù Văn Nhiêu phạm tội TTTPCMT theo điều 249 BLHS
