|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG Bản án số: 34/2021/DS-ST Ngày: 29/9/2021 Về việc: “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc __________________________
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuân Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình
Ông Ngô Văn Sỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thái Trâm Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên toà: Không.
Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 42/2021/TLST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2021/QĐXX-ST ngày 30 tháng 7 năm 2021 và Thông báo về việc hoãn phiên tòa do dịch bệnh Covid-19 số 178/TB-TA ngày 27 tháng 8 năm 2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S (Sacombank); Địa chỉ: Lầu 8, số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch Diễm - Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Thanh H - Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh hàng thương mại cổ phần S tại thành phố Đà Nẵng (Quyết định ủy quyền số 3977/2020/QĐ-PL ngày 28/12/2020 của Tổng Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần S).
Người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Hữu Minh T - Chức vụ: Chuyên viên quan hệ khách hàng Chi nhánh hàng thương mại cổ phần S tại thành phố Đà Nẵng (Giấy ủy quyền số 122/2021/UQ-CNĐN ngày 01/3/2021 của Giám đốc Chi nhánh hàng thương mại cổ phần S tại thành phố Đà Nẵng) - Ông Nguyễn Hữu Minh Thịnh có mặt tại phiên tòa.
2. Bị đơn: Ông Trần Quốc T1 - sinh năm 1995; Địa chỉ: Số 21 N, tổ 20, phường H1, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng - Ông Trần Quốc T1 có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S trình bày:
Vào ngày 11/10/2017, ông Trần Quốc T1 có ký với Sacombank Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông T1 đã nhiều lần thực hiện giao dịch với tổng số tiền 29.996.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 15.348.000 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, ngày 01/3/2018 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển T1 bộ dư nợ còn lại sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 01/3/2021, ông T1 còn nợ Ngân hàng các khoản sau:
- Nợ gốc: 15.000.000 đồng
- Nợ lãi trong hạn: 2.434.186 đồng
- Nợ lãi quá hạn: 23.906.921 đồng
- Tổng cộng: 41.341.107 đồng
Do vậy Sacombank yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Trần Quốc T1 phải thanh toán nợ cho Sacombank số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 01/3/2021 là 41.341.107 đồng. Đồng thời ông T1 phải có nghĩa vụ phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 02/3/2021 cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận.
* Ông Trần Quốc T1 trình bày:
Vào ngày 11/10/2017, tôi có ký với Sacombank Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, với hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, tôi đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền 29.996.000 đồng. Ngày 31/10/2017, tôi thanh toán được 15.348.000 đồng. Tuy nhiên, kể từ ngày 31/10/2017 đến nay tôi không nhận được bất cứ thông tin gì của Sacombank về việc nhắc nhở yêu cầu thanh toán khoản nợ nêu trên. Do đó, tôi yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện trong vụ án này về tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn, tôi chỉ chấp nhận trả số tiền gốc 15.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Về thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn có yêu cầu áp dụng thời hiệu nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 áp dụng thời hiệu khởi kiện.
[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với bị đơn ông Trần Quốc T1 thì thấy: Giao dịch dân sự giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật. Tuy nhiên, về thời hiệu khởi kiện, theo Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 thì thời hiệu khởi kiện là 03 năm. Đến ngày 01/3/2021 Ngân hàng mới khởi kiện là đã quá 03 năm kể từ ngày Sacombank biết quyền lợi bị xâm phạm (30/11/2017). Do đó, việc ông T1 yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với tiền lãi là có căn cứ chấp nhận. Hội đồng xét xử xác định số tiền nợ gốc 15.000.000 đồng là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của Sacombank nên buộc ông T1 phải trả.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14, ông Trần Quốc T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nợ gốc phải trả.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 30, 35, 39, 91, 92, 147, 155, 184, 227, 271, 273, 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 280, 429 Bộ luật dân sự năm 2015; Luật các tổ chức tín dụng.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với ông Trần Quốc T1.
- 1.1. Buộc ông Trần Quốc T1 phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ gốc 15.000.000 đồng.
- 1.2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với số tiền lãi 26.341.107 đồng.
- Về án phí:
- 2.1. Buộc ông Trần Quốc T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 750.000 đồng.
- 2.2. Ngân hàng thương mại cổ phần S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 1.317.055 đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc nhận được bản án.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Q. Liên Chiểu; - Chi cục THADS Q. Liên Chiểu; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Xuân Hương |
Bản án số 34/2021/DS-ST ngày 29/09/2021 của Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Số bản án: 34/2021/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/09/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HĐTD
