Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DANH

HUYỆN THẠNH TRỊ

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 34/2021/DS-ST

Ngày: 03-6-2021

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Võ Tấn Nga.
  • Ông Nguyễn Công Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

- Vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa.

Trong ngày 03 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 43/2021/TLST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2021 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2021/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) S.

Địa chỉ: Số X đường Y, Quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức T – Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1975 – Giám Đốc Ngân hàng TMCP S chi nhánh Sóc Trăng.

Địa chỉ: Số N Trần Hưng Đ, Phường M, thành phố Sóc T, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Tuấn Anh: Bà Đinh Thị Ái T – Trưởng Phòng PGD Thạnh P (có mặt).

Địa chỉ: Số L, QL1A, xã Thạnh P, huyện Mỹ X, tỉnh Sóc Trăng.

Theo văn bản ủy quyền ngày 26/3/2021.

- Bị đơn: Bà Trần Thị H, sinh năm 1967 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Xa M, thị trấn Phú L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Đinh Thị Ái T trình bày: Ngân hàng thương mại cổ phần S – PGD Thạnh P ký với bà Trần Thị H Hợp đồng tín dụng vốn lãi chia đều số LD1713900463 ngày 19/5/2017. Ngân hàng đã giải ngân cho bà Trần Thị H vay 120.000.000 đồng để tiêu dùng, thời hạn vay 60 tháng, chia thành 60 kỳ trả nợ, mỗi tháng trả 01 kỳ, kỳ trả nợ đầu tiên 30/6/2017, các kỳ tiếp theo vào ngày cuối mỗi tháng, mỗi kỳ phải trả 2.840.000 đồng, lãi suất định kỳ phải trả 8,4%/năm. Từ khi vay bà Trần Thị H đã thanh toán vốn gốc 88.000.000 đồng và lãi 36.960.000 đồng. Ngày 28/02/2021 bà Trần Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo kỳ, để phát sinh nợ quá hạn. Ngân hàng nhiều lần thương lượng nhưng bị đơn không có thiện chí trả nợ. Sau khi Ngân hàng khởi kiện đến ngày 25/5/2021 bà H mới trả cho Ngân hàng số tiền 5.750.881 đồng, Ngân hàng tạo điều kiện ưu tiên thu tiền vốn để bớt gánh nặng lãi cho bà H. Tính đến nay bà H còn vi phạm 05 kỳ chưa đóng. Tại đơn khởi kiện Ngân hàng có yêu cầu bà H trả số tiền còn nợ tính đến ngày 15/3/2021 tổng cộng 33.270.500 đồng (vốn 32.000.000 đồng, lãi trong hạn 1.260.000 đồng, lãi quá hạn 10.500 đồng). Tính đến ngày 03/6/2021 bà H còn nợ Ngân hàng số tiền 29.811.417 đồng (vốn 26.249.119 đồng, lãi trong hạn 3.444.000 đồng và lãi quá hạn 118.298 đồng). Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H trả cho Ngân hàng số tiền 29.811.417 đồng và phải chịu lãi phát sinh từ ngày 04/6/2021 cho đến khi trả dứt nợ.

Theo bản tự khai ngày 18/5/2021, bị đơn bà Trần Thị H trình bày: Ngày 19/5/2017 bà có ký hợp đồng tín dụng với số vốn là 120.000.000 đồng, thời hạn 60 tháng, mỗi tháng trả một lần, số tiền 2.840.000 đồng, lãi suất định kỳ phải trả 8,4%/năm. Từ khi vay đã thanh toán vốn gốc 88.000.000 đồng và lãi 36.960.000 đồng. Tính đến ngày 15/3/2021 còn nợ lại Ngân hàng 33.270.000 đồng (vốn 32.000.000 đồng và lãi 1.270.500 đồng), vì hoàn cảnh bị bệnh nên không đóng tiền cho Ngân hàng đúng thời gian quy định. Nay xin trả hàng tháng theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự phát sinh từ hợp đồng dân sự giữa tổ chức tín dụng với cá nhân. Bị đơn có nơi cư trú tại ấp Xa M, thị trấn Phú L, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng; phiên tòa được mở lần thứ hai nhưng bị đơn bà H vắng mặt không có lý do. Theo các quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng, Hội đồng xét xử biểu quyết và thống nhất 3/3 ý kiến xét xử vắng mặt đối với bị đơn bà H.

[2] Về nội dung: Các đương sự đều thừa nhận, thông qua Hợp đồng tín dụng vốn lãi chia đều số LD1713900463 và Giấy nhận nợ cùng ngày 19/5/2017, Ngân hàng thương mại cổ phần S đã giải ngân cho bà H vay số tiền vốn 120.000.000 đồng để tiêu dùng, thời hạn vay 60 tháng, chia thành 60 kỳ trả nợ. Quá trình thực hiện hợp đồng bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo kỳ, không tiếp tục trả nợ theo thỏa thuận, để phát sinh nợ quá hạn, nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà H trả số tiền còn nợ tính đến ngày 15/3/2021 tổng cộng 33.270.500 đồng (vốn 32.000.000 đồng, lãi trong hạn 1.260.000 đồng, lãi quá hạn 10.500 đồng). Tại bản tự khai bà H thừa nhận số nợ nêu trên nhưng xin được trả dần. Căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh do các đương sự đều thừa nhận. Tính đến ngày 03/6/2021 số tiền bị đơn nợ tổng cộng 29.811.417 đồng (vốn 26.249.119 đồng, lãi trong hạn 3.444.000 đồng và lãi quá hạn 118.298 đồng). Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà H có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tổng số tiền 29.811.417 đồng.

[3] Về thời gian trả nợ: Bị đơn xin trả dần số tiền còn nợ, nhưng nguyên đơn không đồng ý, các bên không thỏa thuận được thời gian trả nợ. Xét yêu cầu của đương sự thuộc thẩm quyền giai đoạn thi hành án dân sự nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[5] Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S.

    Buộc bị đơn bà Trần Thị H có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền còn nợ tính đến ngày 03/6/2021 tổng cộng 29.811.417 đồng (vốn 26.249.119 đồng, lãi trong hạn 3.444.000 đồng và lãi quá hạn 118.298 đồng). Bà Trần Thị H còn phải chịu tiền lãi phát sinh kể từ ngày 04/6/2021 theo mức lãi suất đã thỏa thuận ghi trong Hợp đồng tín dụng vốn lãi chia đều số LD1713900463 và Giấy nhận nợ cùng ngày 19/5/2017 cho đến khi thanh toán xong nợ.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Trần Thị H có nghĩa vụ nộp án phí số tiền 1.490.570 đồng. Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S tiền tạm ứng án phí đã nộp 832.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008343 ngày 13/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

Đương sự có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Thạnh T;
  • - Chi cục THADS huyện Thạnh T;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ





Nguyễn Thành Nghiệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2021/DS-ST ngày 03/06/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 34/2021/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng thương mại cổ phần S – PGD Thạnh P ký với bà Trần Thị H Hợp đồng tín dụng vốn lãi chia đều số LD1713900463 ngày 19/5/2017. Ngân hàng đã giải ngân cho bà Trần Thị H vay 120.000.000 đồng để tiêu dùng, thời hạn vay 60 tháng, chia thành 60 kỳ trả nợ, mỗi tháng trả 01 kỳ, kỳ trả nợ đầu tiên 30/6/2017, các kỳ tiếp theo vào ngày cuối mỗi tháng, mỗi kỳ phải trả 2.840.000 đồng, lãi suất định kỳ phải trả 8,4%/năm. Từ khi vay bà Trần Thị H đã thanh toán vốn gốc 88.000.000 đồng và lãi 36.960.000 đồng. Ngày 28/02/2021 bà Trần Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo kỳ, để phát sinh nợ quá hạn. Ngân hàng nhiều lần thương lượng nhưng bị đơn không có thiện chí trả nợ. Sau khi Ngân hàng khởi kiện đến ngày 25/5/2021 bà H mới trả cho Ngân hàng số tiền 5.750.881 đồng, Ngân hàng tạo điều kiện ưu tiên thu tiền vốn để bớt gánh nặng lãi cho bà H. Tính đến nay bà H còn vi phạm 05 kỳ chưa đóng. Tại đơn khởi kiện Ngân hàng có yêu cầu bà H trả số tiền còn nợ tính đến ngày 15/3/2021 tổng cộng 33.270.500 đồng (vốn 32.000.000 đồng, lãi trong hạn 1.260.000 đồng, lãi quá hạn 10.500 đồng). Tính đến ngày 03/6/2021 bà H còn nợ Ngân hàng số tiền 29.811.417 đồng (vốn 26.249.119 đồng, lãi trong hạn 3.444.000 đồng và lãi quá hạn 118.298 đồng). Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà H trả cho Ngân hàng số tiền 29.811.417 đồng và phải chịu lãi phát sinh từ ngày 04/6/2021 cho đến khi trả dứt nợ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger