Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 34/2021/DS-PT
Ngày 14/5/2021
V/v “Tranh chấp
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Tấn Hoàng

Các Thẩm phán: Bà Vũ Ngọc Hà, Ông Ngô Chịu

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy An, Cán bộ tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên: Ông Lê Minh Chánh, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2021 tại Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 94/2020/TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm 2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 23/2020/DS-ST ngày 24/9/2020 của Toà án nhân dân thị xã ĐH bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 06/2021/QĐ-PT ngày 25 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  • Cụ Trần Thị H (Chết)
  • Ông Nguyễn Thế G, sinh năm 1972. Có mặt.

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ H:

  • Ông Nguyễn Thế G, sinh năm 1972. Có mặt.
  • Ông Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1974. Vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Thế Nh, sinh năm 1975. Vắng mặt.
  • Đều cư trú tại: Khu phố 2, phường H, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên
  • Bà Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Số nhà 1183/8/2 đường Lê Hồng Ph, phường Phú Thọ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

2. Bị đơn:

  • Ông Nguyễn Đức Tr1, sinh năm 1951. Có mặt.
  • Ông Nguyễn Văn Tr2, sinh năm 1966. Vắng mặt.
  • Đều cư trú tại: Khu phố 2, phường H, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • Ủy ban nhân dân phường H, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Thanh Ph, sinh năm 1974. Vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Thế Nh, sinh năm 1975. Vắng mặt.
  • Bà Lê Thị X, sinh năm 1952. Vắng mặt.
  • Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1952. Vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Xuân Th, sinh năm 1971. Vắng mặt.
  • Bà Huỳnh Thị Kim Ph1, sinh năm 1979. Vắng mặt.
  • Bà Nguyễn Thị G2, sinh năm 1971. Vắng mặt.
  • Đều cư trú tại: Khu phố 2, phường H, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên
  • Bà Nguyễn Thị Kim S, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số nhà 1183/8/2 đường Lê Hồng Ph, phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

4. Người làm chứng: Ông Nguyễn Đ; Nơi cư trú: Khu phố 2, phường H, thị xã ĐH, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

5. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Thế G.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Nguyễn Thế G trình bày: Nguyên cụ Nguyễn Kh1 là ông nội của ông G có một thửa đất ở được chế độ cũ cấp diện tích 01 sào, 6 thước 7 tấc, cụ Khiêm cho gia đình cụ Nguyễn Nhượng là cha ông G được thừa hưởng một thửa đất ở khu phố 2, phường H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Viết tắt là GCNQSDĐ) đứng tên cụ Nh3 diện tích 1.520m2, khi cấp ông G không xác định có con đường này hay không. Trước khi được cấp GCNQSDĐ ông Khiêm có cho ông Nguyễn Để mở một con đường nhỏ đi vào đất ông Đ, nhưng hiện nay ông Để đã đi con đường khác còn con đường này bị gia đình ông Tr1, ông Tr2 tự ý sử dụng làm đường đi. Khoảng năm 2014, 2015 ông G phát hiện ông Tr1, ông Tr2 tự ý đổ bê tông con đường với chiều ngang là 2,5m, chiều dài là 33,3m, ông G xác định con đường này là đất của gia đình ông nên yêu cầu ông Tr1, ông Tr2 phải tháo dỡ bê tông trả lại đất cho gia đình ông. Tại phiên tòa sơ thẩm ông G bổ sung yêu cầu đề nghị UBND phường H phải trả giá trị đất diện tích 15m2 theo giá thị trường và ông Nguyễn Để phải tháo dỡ hàng rào trả lại đất cho nguyên đơn.

Bị đơn ông Nguyễn Đức Tr1, ông Nguyễn Văn Tr2 trình bày: Phần đất ông G tranh chấp là con đường dân sinh thuộc sự quản lý của UBND phường H, đây là con đường duy nhất để đi vào nhà của 4 hộ gia đình: ông Tr1, ông Tr2, ông Th và ông Đ, hình thành và tồn tại từ trước năm 1975 đến nay. Năm 2015 nhà nước thực hiện chủ trương đường bê tông hóa theo hướng nhà nước và nhân dân cùng làm, UBND thị trấn (nay là phường) H xem xét thấy đủ tiêu chuẩn đổ bê tông, nên gia đình ông Tr1, ông Tr2 góp tiền cùng với nhà nước làm đường, nên nguyên đơn yêu cầu trả lại con đường đi là không có căn cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Nguyễn Thế G yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Tr1, ông Tr2 phải tháo dỡ đường bê tông trả lại con đường đi diện tích đất là 89,7m2. Theo bản đồ địa chính năm 1990 thửa số 958 tờ bản đồ số 5A, diện tích 1.520m2 là do cụ Nhượng đứng tên và được UBND huyện (nay là thành phố) Tuy Hòa cấp GCNQSDĐ số A 153703, ngày 10/12/1992, đối chiếu với sơ đồ địa chính các năm 1990, 1995 và 2015 thì con đường mà ông G đang tranh chấp đều thể hiện trong bản đồ địa chính là đất giao thông (đường đi) do UBND phường H quản lý, con đường này nằm ngoài GCNQSDĐ đã cấp cho cụ Nhượng. Các con cụ Nhượng, cụ H và nhân chứng đều xác nhận con đường đang tranh chấp tồn tại từ trước năm 1975, đây là con đường duy nhất vào nhà của bị đơn và người có quyền và nghĩa vụ liên quan. Do đó ông G khởi kiện cho rằng đất đường đi là 89,7m2 là của gia đình ông và yêu cầu ông Tr1, ông Tr2 tháo dỡ đường bê tông trả lại đất là không có cơ sở.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thế G, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Áp dụng các Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 155, 189, 192, 221, 254 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Thế G, cụ Trần Thị H theo đơn khởi kiện ngày 01/3/2019 về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Đức Trang, ông Nguyễn Văn Truyền trả lại đường đi diện tích 89,7m2 và tháo dỡ đường bê tông vì không có căn cứ pháp luật.
  2. Đối với yêu cầu của ông G đòi Ủy ban nhân dân phường H trả lại con đường mới mở diện tích đất 15m2 theo giá thị trường và ông Nguyễn Đ tháo dỡ hàng rào trả lại đất cho ông G, đây là yêu cầu khởi kiện mới được ông G nộp vào ngày 28/8/2020, nên yêu cầu này vượt quá phạm vi khởi kiện, Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về án phí: Ông Nguyễn Thế G phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Nơi nhận:
- TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
- VKSND tỉnh Phú Yên (2);
- TAND Tx. ĐH (2);
- CCTHADS Tx. ĐH;
- P.GĐKT;
- VP-TNV;
- Các đương sự;
- Lưu AV, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Mai Tấn Hoàng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2021/DS-PT ngày 14/05/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 34/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger