|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG Bản án số: 33A/2025/HS-ST Ngày 15/12/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai Loan.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Lưu Văn Thành.
- Ông Lương Văn Ánh.
- Thư ký phiên tòa: bà Hồ Thị Hoàng Sa – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Ngô Thanh An, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh ngày 25/02/2000 tại xã Q, thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: thôn X, xã Q, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T (đã chết) và bà Phùng Thị H; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không, tiền sự: ngày 08/9/2024, bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87/QĐ-XPHC; ngày 14/6/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân xã Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 127/QĐ-XPHC; ngày 27/6/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 06/QĐ-TA. Về nhân thân: ngày 12/6/2024, bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 46/QĐ-XPHC, chấp hành xong ngày 17/6/2024. Bị cáo bị tạm giam ngày 25/8/2025. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 24/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Văn L là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn quản lý từ ngày 24/02/2025 đến ngày 23/02/2027. Vào khoảng 14 giờ ngày 18/7/2025, bị cáo Nguyễn Văn L đón xe ôm từ phường H, thành phố Đà Nẵng đến khu vực vòng xoáy Đ thuộc phường Đ, thành phố Đà Nẵng tìm gặp một người tên là “Bi” (không rõ nhân thân) để mua ma túy với giá 270.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo đón xe buýt về khu vực vườn keo lá tràm phía sau nhà tại thôn X, xã Q để sử dụng. Sau đó, bị cáo quay lại phòng trọ tại K đường Đ, phường L để sinh hoạt và đi làm bình thường. Đến ngày 25/7/2025, Công an phường L tiến hành kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với bị cáo, cho kết quả dương tính với ma túy thuộc nhóm "MOR".
Tại kết luận số 1228/KL-KTHS ngày 04/8/2025 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: tìm thấy chất Morphine, 6-monoacetylmorphine (6-MAM) và codeine là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine trong mẫu nước tiểu ghi thu của bị cáo L.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 (một) que Kit test kiểm tra ma túy được sử dụng để xét nghiệm đối với bị cáo.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSKV6-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo tại Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 24 đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: tịch thu tiêu hủy 01 (một) que Kit test kiểm tra ma túy được sử dụng để xét nghiệm đối với Nguyễn Văn L; lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa ĐVD lưu trữ video hỏi cung ghi hình có âm thanh của Nguyễn Văn L.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội, đối chiếu với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:
Theo Quyết định số 49/QĐ-UBND ngày 24/02/2025 của Ủy ban nhân dân xã Q, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Nguyễn Văn L là đối tượng thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú, thời hạn quản lý từ ngày 24/02/2025 đến ngày 23/02/2027. Ngày 18/7/2025, bị cáo sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực vườn keo lá tràm phía sau nhà tại thôn X, xã Q. Kết quả giám định cho thấy trong mẫu nước tiểu ghi thu của bị cáo L có chất Morphine, 6-monoacetylmorphine (6-MAM) và codeine, là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroine.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Vì vậy, Cáo trạng 06/CT-VKSKV6-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Đà Nẵng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Bị cáo là người đã được áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc, nhận thức được tác hại của chất ma tuý, sự nguy hiểm của hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn bất chấp thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý mà còn là nguy cơ tiềm ẩn các hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[4]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, có 03 tiền sự: ngày 08/9/2024, bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87/QĐ-XPHC; ngày 14/6/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 127/QĐ-XPHC; ngày 27/6/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 06/QĐ-TA. Về nhân thân: ngày 12/6/2024, bị Công an huyện Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 46/QĐ-XPHC, chấp hành xong ngày 17/6/2024.
Về tình tiết tăng nặng: không.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy nhất thiết phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo trở thành người công dân tốt.
[5]. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) que Kit test kiểm tra ma túy được sử dụng để xét nghiệm đối với Nguyễn Văn L;
- - Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa ĐVD lưu trữ video hỏi cung ghi hình có âm thanh của Nguyễn Văn L.
[6]. Những vấn đề khác trong vụ án:
Đối với người tên B: bị cáo khai là đã mua ma túy của người này về để sử dụng, nhưng qua xác minh, không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể của B nên không đủ cơ sở để xác minh, xử lý.
[7]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8]. Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 292, 299, 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) que Kit test kiểm tra ma túy được sử dụng để xét nghiệm đối với Nguyễn Văn L;
- - Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa ĐVD lưu trữ video hỏi cung ghi hình có âm thanh của Nguyễn Văn L.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
- Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (15-12-2025).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn L 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (25/8/2025).
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai Loan |
Bản án số 33A/2025/HS-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG về sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 33A/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn L phạm tội "sử dụng trái phép chất ma túy"
