Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 3397/2024/DS-ST

Ngày: 26/07/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lũy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Đăng Vạn.
  2. Ông Phạm Văn Phước

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 152/2024/TLST–DS ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2024/QĐXXST- DS ngày 11 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 512/2024/QĐ-HPT ngày 02 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty T

Trụ sở: Lầu 8,9,10 Toà nhà Gilimex, số B P, Phường F, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đàng Thanh P.

Bị đơn: ông Đinh Cát V, sinh năm 1974

Địa chỉ: 7 đường T, khu phố B, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Ông P có đơn xin vắng mặt, ông V vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên Tòa ngày hôm nay ông Đàng Thanh P là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Công ty T tuy vắng mặt nhưng theo nội dung đơn khởi kiện, tại bản tự khai, tại biên bản về việc không tiến hành hòa giải được thì nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

Ngày 27 tháng 12 năm 2019, ông Đinh Cát V đã ký văn bản Đề nghị cấp tín dụng kiêm thỏa thuận sử dụng dịch vụ điện tử số 2W015932572 với Công ty T. Theo Đề nghị cấp tín dụng kiêm thỏa thuận sử dụng dịch vụ điện tử số 2W015932572, Công ty T đã cho ông Đinh Cát Vũ V đã vay khoản tiền là 45.800.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu tám trăm đồng) để mua xe máy và để đảm bảo cho số tiền mà ông Đinh Cát V vay, ông Đinh Cát V và Công ty T đã ký Hợp đồng thế chấp số 2W015932572 ngày 27 tháng 12 năm 2019, theo đó ông Đinh Cát V thế chấp cho Công ty T SAISON 01 xe HONDA PCX 150, số máy KF30E- 1003652, số khung RLHKF3023JY003634, Biển số đăng ký 59B1-655.51 đứng tên Đinh Cát V. Theo thỏa thuận trong Đề nghị cấp tín dụng kiêm thỏa thuận sử dụng dịch vụ điện tử số 2W015932572, thì vào ngày 25 tây hàng tháng, ông Đinh Cát V phải thanh toán cho Công ty T số tiền là 4.645.245 đồng (Bốn triệu, sáu trăm bốn mươi lăm ngàn,hai trăm bốn mươi lăm ngàn đồng) thanh toán liên tục trong 12 kỳ trả góp, ngày bắt đầu từ 25 tháng 1 năm 2020 đến 25 tháng 12 năm 2020. Bắt đầu từ ngày 26 tháng 8 năm 2020, ông Đinh Cát V đã vi phạm thời hạn thanh toán, Công ty T đã nhiều lần có văn bản nhắc nhở, đôn đốc nhưng ông Đinh Cát V vẫn không thiện chí thanh toán tiền cho Công ty T. Công ty T khởi kiện yêu cầu Tòa án xử buộc ông Đinh Cát V phải trả cho Công ty T tổng số tiền là 25.310.534 đồng, trong đó vốn gốc là 20.572.528 đồng, tiền lãi trong hạn là 1.525.596 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.212.410 đồng, trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Công ty T không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, không tính lãi từ ngày 15 tháng 12 năm 2020 cho đến ngày bản án có hiệu lực, nhưng ông Đinh Cát V phải chịu lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự khi Công ty T có đơn yêu cầu thi hành án.

Bị đơn ông Đinh Cát V vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng nên Tòa án không có thu thập được lời khai.

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa có bà Nguyễn Ngọc B kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Vụ án trên đã được Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức thụ lý và giải quyết đúng theo trình tự mà Bộ luật Tố tụng dân sự đã qui định.

Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ và chứng minh công khai tại phiên tòa, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

[1] Quan hệ tranh chấp giữa Công ty T và ông Đinh Cát V là tranh chấp hợp đồng tín dụng, nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận, huyện. Bị đơn cư trú tại Thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức;

[2] Ông Đinh Cát V là bị đơn trong vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định để ông Đinh Cát V đến Tòa cung cấp lời khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và nghe xét xử nhưng ông Đinh Cát V vẫn không đến Tòa, không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình và không có lý do, nguyên đơn có đơn xin được vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

2. Về nội dung tranh chấp:

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày cũng như yêu cầu của ông Đàng Thanh P là đại diện theo ủy quyền của Công ty T, Công ty T yêu cầu ông Đinh Cát V có trách nhiệm trả cho Công ty T SAISON số tiền nợ theo Đề nghị cấp tín dụng kiêm thỏa thuận sử dụng dịch vụ điện tử số 2W015932572 ngày 27 tháng 12 năm 2019 với số tiền tổng cộng là 25.310.534 đồng, trong đó vốn gốc là 20.572.528 đồng, tiền lãi trong hạn là 1.525.596 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.212.410 đồng, trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Công ty T không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, không tính lãi từ ngày 15 tháng 12 năm 2020 cho đến ngày bản án có hiệu lực, nhưng ông Đinh Cát V phải chịu lãi theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự khi Công ty T có đơn yêu cầu thi hành án, yêu cầu của Công ty T, Hội đồng xét xử xét:

[1] Công ty T khởi kiện ông Đinh Cát V, kèm theo đơn là các tài liệu chứng minh ông Đinh Cát V có nợ tiền Công ty T. Tòa án đã triệu tập ông Đinh Cát V đến Tòa để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên Tòa nhưng ông Đinh Cát V đều không đến Tòa, không có văn bản phản đối nên theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện không thuộc trường hợp phải chứng minh. Ông Đinh Cát V phải chịu trách nhiệm về yêu cầu khởi kiện và những tài liệu chứng cứ mà Công ty T đưa ra.

[2] Căn cứ Văn bản là Đề nghị cấp tín dụng kiêm thỏa thuận sử dụng dịch vụ điện tử số 2W015932572 ngày 27 tháng 12 năm 2019 có chữ ký của ông Đinh Cát V đã cho thấy ông Đinh Cát V có đề nghị Công ty T cho vay số tiền 45.800.000 đồng. Công ty T đã chấp nhận cho cho ông Đinh Cát V vay số tiền trên, mục đích vay mua hàng hóa ( Mua xe ), lãi suất thỏa thuận, việc thỏa thuận trên giữa Công ty T và ông Đinh Cát V là phù hợp quy định tại Điều 116, Điều 117 Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Đều 91 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi được Công ty T giải ngân cho ông Đinh Cát V, ông Đinh Cát V đã tiến hành giao dịch. Sau khi ông Đinh Cát V đã vay được tiền, trong vài tháng đầu ông Đinh Cát V có thanh toán tiền cho Công ty T như đã thỏa thuận, nhưng dần về sau thì ông Đinh Cát V không thanh toán, Công ty đã nhắc nhở nhiều lần nhưng ông Đinh C vẫn cố tình né tránh không thực hiện nghĩa vụ. Do ông Đinh Cát V vì phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T khởi kiện yêu cầu ông Đinh Cát V phải trả nợ cho Công ty T với số tiền vốn gốc là 20.572.528 đồng là có cơ sở và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận;

[3] Đối với số tiền nợ lãi:

[3.1] Ông Đinh Cát V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Công ty T đã áp dụng mức lãi suất mà hai bên đã ký để tính lãi, căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 qui định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật. Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi, và được quy định trong hợp đồng thì ông Đinh Cát V phải chịu số tiền lãi mà Công ty T đã yêu cầu là có cơ sở. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận

[3.2] Theo thỏa thuận tại Đề nghị cấp tín dụng kiêm thỏa thuận sử dụng dịch vụ điện tử số 2W015932572 ngày 27 tháng 12 năm 2019 mà ông Đinh Cát V đã ký thì ông Đinh Cát V còn phải chịu lãi khi phi phạm nghĩa vụ thanh toán, Hội đồng xét xử đã giải thích nhưng ông Đàng Thanh P là đại diện theo ủy quyền của Công ty T vẫn giữ yêu cầu là không yêu cầu tính lãi từ ngày 15 tháng 12 năm 2020 cho đến ngày bản án có hiệu lực. Đây là sự tự nguyện của Công ty T, không trái pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên ghi nhận.

[4] Về thời gian trả nợ, như phân tích tại [1], [2], và [3] thì ông Đinh Cát V đã vi phạm thời gian thanh toán nợ. Việc ông Đinh Cát V vi phạm thời gian thanh toán nợ đã làm ảnh hưởng đến lợi ích của Công ty T. Nay Công ty T yêu cầu ông Đinh Cát V phải trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở không trái pháp luật. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận;

[5] Về tài sản thế chấp: Để bảo đảm cho khoản tiền vay, ngày 27 tháng 12 năm 2019 ông Đinh Cát V và Công ty T đã ký với nhau 01 hợp đồng chế chấp, qua đó ông Đinh Cát V đồng ý thế chấp cho Công ty T 01 xe HONDA PCX 150, số máy KF30E- 1003652, số khung RLHKF3023JY003634, Biển số đăng ký 59B1-655.51 đứng tên Đinh Cát V. Công ty T không yêu cầu Tòa án xem xét về tài sản thế chấp. Tòa án đã giải thích về quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp nhưng ông Đàng Thanh P là đại diện theo ủy quyền của Công ty T vẫn giữ yêu cầu là không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp. Đây là sự tự nguyện của Công ty T, Hội đồng xét xử nghĩ nên ghi nhận.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy yêu cầu khởi kiện của Công ty T là có cơ sở, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Về đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tại phiên tòa hôm nay về nội dung vụ án, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức là có cơ sở.

Về án phí:

  • Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  • Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 180, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
  • Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;
  • Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
  • Căn cứ Luật phí và lệ phí;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty T về việc yêu cầu ông Đinh Cát V có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty T

Buộc ông Đinh Cát V có Công ty T SAISON số tiền 25.310.534 đồng, trong đó vốn gốc là 20.572.528 đồng, tiền lãi trong hạn là 1.525.596 đồng, tiền lãi quá hạn là 3.212.410 đồng. Trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về tài sản thế chấp: Công ty T không yêu cầu, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tiền lãi phát sinh từ ngày 15 tháng 12 năm 2020 cho đến ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty T không yêu cầu, Hội đồng xét xử ghi nhận

Các bên thi hành tại Cơ quan có thẩm quyền về thi hành án dân sự.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/năm. Nếu không có thỏa thuận thì lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn qui định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[2] Về án phí:

[2.1] Án phí dân sự sơ thẩm ông Đinh Cát V phải chịu là 1.265.527 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Ông Đinh Cát V chưa nộp án phí

[2.2] H lại cho Công ty T số tiền 632.764 đồng mà Công ty T đã tạm nộp án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000443 ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức.

[3] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được tống đạt hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân phường.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP HCM;
  • - VKSND TP Thủ Đức;
  • - Chi Cục THADS TP Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (P/10).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Lũy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3397/2024/DS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 3397/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger