|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 339/2024/DS-PT Ngày 30-8-2024 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng
Các Thẩm phán: Ông Dương Hùng Quang
Bà Đinh Cẩm Đào
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 và 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 226/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 7 năm 2024 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Hùng K, sinh năm 1964. Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, T, Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1956.
- Bà Đinh Thị B, sinh năm 1956 (có mặt).
- Ông Đào Minh T, sinh năm 1970 (vắng mặt khi tuyên án).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Văn Đ: Anh Bùi Văn C, sinh năm: 1988 (có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, T, Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị T1, sinh năm 1968 (vợ ông K, vắng mặt).
- Chị Trần Thị Thùy M, sinh năm 1991 (con ông K, bà T1, vắng mặt).
- Chị Trần Thị Thùy D, sinh năm 1995 (con ông K, bà T1, vắng mặt).
- Anh Bùi Văn C, sinh năm 1988 (con ông Đ, bà B, có mặt).
- Chị Nguyễn Sa L, sinh năm 1990 (vợ anh C).
- Chị Bùi Thị O (con ông Đ, bà B, vắng mặt).
- Anh Huỳnh Trọng N (chồng chị O, vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 (vợ ông T, vắng mặt).
- Anh Đào Việt T2, sinh năm 1995 (con ông T, bà H, vắng mặt khi tuyên án).
- Chị Đào Thị T3, sinh năm 2000 (con ông T, bà H, vắng mặt).
- Chị Võ Ngọc N1, sinh năm 1995 (vợ anh T2, vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Sa L: Anh Bùi Văn C, sinh năm: 1988 (có mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, T, Cà Mau.
- Ủy ban nhân dân huyện T (vắng mặt).
- Ngân hàng N5 – Chi nhánh huyện T (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Khóm A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Trần Hùng K là nguyên đơn. Ông Bùi Văn Đ, bà Đinh Thị B là bị đơn. Anh Bùi Văn C, chị Nguyễn Sa L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Trần Hùng K trình bày:
Ông có phần đất vị trí: Mặt tiền giáp kênh xáng Bạch Ngưu, mặt hậu giáp kênh R (kênh dự án), cạnh phải nhìn từ mặt tiền giáp ông Đào Minh T, cạnh trái nhìn từ mặt tiền giáp bà Đinh Thị B, tọa lạc: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Nguồn gốc đất của cha ruột ông K là ông Trần Văn C1, năm 1968 ông C1 chết, bỏ đất đến năm 1981 bà L1 (vợ ông C1) và ông K về quản lý, sử dụng. Đến năm 1993 bà L1 được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 2006 chuyển cho ông K đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi sang tên không có đo đạc. Hiện ông K đang giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền dụng đất.
Phần đất liền kề với ông T: Ông có đào đường mương ranh chiều ngang 1,5m để bắt cá, thời điểm này bà Cao Thị D1 ở, việc đào đường mương bà D1 thống nhất. Năm 2004, ông bơm đất lên bờ xáng thì đường mương bị lấp. Năm 2008, ông T về ở. Năm 2011, ông T cất nhà thì cha ông T là ông Đào Văn L2 có mời ông ra cặm ranh (trụ đá), bên ông T làm hàng rào tới ranh, khi ông T làm bờ kè cũng nhắm theo trụ này để làm, ông T làm hàng rào từ trước ra sau. Hiện tại ở mặt trước giáp ranh ông T còn trụ đá.
Năm 2018, ông T cùng với nhiều người cặm trụ đá mới lấn qua ông 1,4m lúc cặm bên ông K không có ý kiến vì bên ông T có nhiều người. Sau đó ông K yêu cầu Ban N6 hòa giải để xác định lại ranh đất giữa ông K với ông T. Kết quả hòa giải trên cơ sở động viên của Ban nhân dân ấp ông K và ông T thống nhất: Ở mặt trước (gần lộ bê tông) đo từ trụ hàng rào của ông T qua ông K 1,4m, ở mặt sau đo từ trụ hàng rào của ông T qua ông K 1,4m đối chiếu với bản vẽ hiện trạng bổ sung của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T5 (gọi tắt là công ty T5) trụ đá mặt trước là mốc M17, trụ đá mặt sau là mốc M14 (ở mặt trước có hai trụ đá: Trụ cũ mốc M15 và trụ đá mới mốc M17). Ban N6 có chứng kiến việc các bên thỏa thuận cặm trụ đá.
Đối với phần đất không tranh chấp có đường bờ hiện trạng ông K với ông T đã sử dụng ổn định không có tranh chấp, giữa ông K và ông T đã thỏa thuận cặm mốc phân ranh mỗi người ½ bờ ở mặt hậu (giáp với đất bà Nguyễn Thị T4).
Trước khi ông T sử dụng đất thì phần đất là của bà Cao Thị D1. Giữa ông và bà D1 không có tranh chấp trong quá trình sử dụng đất.
Phần đất tranh chấp giữa ông K với ông T theo bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5 thuộc các mốc M4, M19, M8, M12 ông K yêu cầu quản lý sử dụng 1½ giao cho ông T 1/2.
Phần đất liền kề với bà B: Năm 1981, khi quản lý sử dụng cạnh giáp phần đất bà B, ông có đào một mương ranh chiều ngang 02m. Thời ông nội ông sử dụng thì có trồng một bụi tre làm ranh với bên đất bà B nên khi đào mương ông chừa bụi tre ra đào toàn bộ bên phần đất của ông, hiện đường mương vẫn còn.
Năm 1995, khi phát động làm vuông đường mương này hai bên sử dụng bơm nước vào vuông. Hai bên có hùn lại đặt ống để bơm nước, ông sử dụng thường xuyên đến năm 2021, do dự định Nhà nước sẽ làm lộ nên ông làm đường nước khác, quá trình bơm nước từ năm 1995 đến năm 2021 giữa ông với bà B không có tranh chấp gì. Kể từ ngày 20/10/2022 thì đường nước này không còn sử dụng nữa do tranh chấp. Cụ thể, năm 2022 ông làm hàng rào còn chừa cách đường mương 01m nhưng bà B cũng không cho làm nên hai bên tranh chấp cho đến nay.
Ông K về ở trước bà B khoảng 05 năm, mương do ông K đào. Trước khi bà B về ở thì phần đất do ông Bùi Văn C2 quản lý. Giữa ông và ông C2 không có tranh chấp.
Phần đất tranh chấp giữa ông K với ông Đ, bà B theo bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5 thuộc các mốc M22, M34, M24, M36. Ở mặt trước, ông K yêu cầu quản lý, sử dụng từ mốc M22 đo qua ông Đ, bà B 01m phóng thẳng ra mốc M24. Ở mặt sau, ông K và ông Đ, bà B thống nhất vị trí giáp ranh đất với nhau tại mốc M24).
Phần đất tranh chấp từ Lộ bê tông đến giáp sông B giữa ông K với ông T thuộc các mốc M40, 41, 55, 56 và giữa ông K với ông Đ, bà B thuộc các mốc M42, 43, 47, 48 (theo bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5) thuộc đất bảo lưu ven sông ông K xin rút lại không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ông Đào Minh T trình bày:
Ông có phần đất vị trí: Mặt tiền giáp sông B, mặt hậu giáp phần đất của bà T4, cạnh phải nhìn từ mặt tiền giáp ông Cao Văn Y, cạnh trái nhìn từ mặt tiền giáp ông Trần Hùng K, tọa lạc: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Giữa phần đất của ông và ông Y hai bên có thống nhất mốc giới ranh đất do ông Y chỉ nhưng chưa có cặm trụ đá phân ranh.
Nguồn gốc phần đất do ông nhận chuyển nhượng của ông Cao Văn N2, bà Cao Thị D1 khoảng trước năm 1995, việc chuyển nhượng hai bên có làm giấy và được địa phương xác nhận. Khi ông N2, bà D1 giao đất thì giữa phần đất của ông N2 và ông K có đường mương nhỏ, chiều ngang khoảng 01m. Đường mương do ông N2 đào 01 đoạn mương phía trước, ông K đào 01 đoạn mương ở phía sau. Khi đào cha ông có ngăn cản thì ông K nói là cho ông K mượn.
Do ông K lấn ranh ở phía sau nên ông K có thỏa thuận với ông bù lại phần đất phía trước để ông T sử dụng.
Phía trước mặt tiền có cặm 02 trụ đá là do ông K yêu cầu Ban N6 hòa giải để xác định lại ranh đất giữa ông K với ông T. Kết quả hòa giải trên cơ sở động viên của Ban nhân dân ấp ông K và ông T thống nhất: Ở mặt trước (gần lộ bê tông) đo từ trụ hàng rào của ông T qua ông K 1,4m, ở mặt sau đo từ trụ hàng rào của ông T qua ông K 1,4m đối chiếu với bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5 trụ đá mặt trước là mốc M17, trụ đá mặt sau là mốc M14 (ở mặt trước có hai trụ đá: Trụ đá cũ mốc M15 và trụ đá mới mốc M17). Ban N6 có chứng kiến việc các bên thỏa thuận cặm trụ đá.
Phần đất ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do ông đứng tên, khi cấp giấy không có đo đạc, hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp vay vốn tại Ngân hàng N5, chi nhánh huyện T, phòng G.
Ông có xây dựng hàng rào, từ vị trí hàng rào đo ra về phía ông K còn khoảng 0,5m mới hết đất của ông. Ông không có lấn phần đất của ông K mà do giữa ông và ông K đổi phần đất như trình bày trên. Ủy ban nhân dân xã T có tiến hành hòa giải, ông yêu cầu từ hàng rào qua 0,5m phóng thẳng đến bờ và cây ranh phía sau. Nếu không đổi được thì phần phía sau trả lại ông, phía trước ông trả lại cho ông K.
Phần đất tranh chấp giữa ông T với ông K theo bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5 thuộc các mốc M4, M19, M8, M12 ông K yêu cầu quản lý sử dụng ½ giao cho ông T ½ ông T thống nhất. Chi phí tố tụng ông K tự chịu.
Bà Đinh Thị B trình bày:
Bà có phần đất vị trí: Mặt tiền giáp sông B, mặt hậu giáp kênh ranh dự án, cạnh phải nhìn từ mặt tiền giáp ông Trần Hùng K, cạnh trái nhìn từ mặt tiền giáp ông Bùi Văn N3, tọa lạc: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau. Giữa phần đất của bà và ông N3 có cậm trụ đá phân ranh (không có tranh chấp với nhau).
Nguồn gốc đất của cha chồng bà là ông Bùi Văn C2 cho vợ chồng bà cách nay 35 năm. Lúc cho ông C2 có chỉ giáp đất với ông K có đường mương chiều ngang khoảng 2m, đường mương này ông C2 đào ở đoạn sau, ông K đào ở đoạn giữa khoảng vài tầm để đắp nền nhà thì ông C2 ngăn cản vì cho rằng ông K đào lấn qua đất ông, còn đoạn gần mặt tiền thì ông Đ, bà B đào. Ông C2 nói đường mương này nằm hoàn toàn trên phần đất của vợ chồng bà. Khi vợ chồng bà về canh tác đất thì đường mương đã có rồi, ông K đã trồng hàng dừa cặp đường mương. Đường mương từ trước đến nay vẫn còn. Khi chuyển dịch sang nuôi tôm bà và ông K cùng sử dụng để lấy nước vào vuông. Khi đặt đường ống để lấy nước bà và ông K hùn đường ống còn mương của vợ chồng bà.
Phần đất do ông Bùi Văn Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi cấp giấy không có đo đạc, hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã thế chấp cho Ngân hàng N5 chi nhánh huyện T - phòng G.
Lúc mẹ ông K còn sống có trồng hàng dừa làm ranh, hiện đường mương và hàng dừa này vẫn còn.
Khi hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã T, xã động viên là lấy phần nửa đường ống nói trên để cắm ranh, nhưng khi cắm trên thực tế thì bà yêu cầu cắm từ mép đường ống (bên phía ông K) chừa đường ống cho bà (phần mặt tiền), phía sau hầu là bờ vuông mỗi người ½ bờ.
Phần đất tranh chấp giữa ông K với ông Đ, bà B theo bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5 thuộc các mốc M22, M34, M24, M36. Ở mặt trước ông K yêu cầu quản lý sử dụng từ mốc M22 đo qua ông Đ, bà B 01m không đồng ý, bà chỉ thống nhất từ mốc M22 đo về đất bà 0,5m phóng thẳng ra mốc M24. Ở mặt sau, ông Đ, bà B và ông K thống nhất vị trí giáp ranh đất với nhau tại mốc M24.
Bà Lê Thị T1, chị Trần Thị Thùy M, chị Trần Thị Thùy D trình bày:
Thống nhất với trình bày của ông K, không có bổ sung ý kiến.
Anh Việt T2 trình bày:
Anh T2 thống nhất lời trình bày của cha anh là ông T anh không bổ sung ý kiến.
Anh Bùi Văn C trình bày:
Anh thống nhất với phần trình bày của mẹ anh là bà B, anh không có ý kiến.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình đã quyết định:
- Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Trần Hùng K, bà Lê Thị T1, chị Trần Thị Thùy M, chị Trần Thị Thùy D với ông Đào Minh T, anh Đào Việt Thắng cụ thể như sau:
- Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Trần Hùng K, bà Lê Thị T1, chị Trần Thị Thùy M, chị Trần Thị Thùy D với bà Đinh Thị B, anh Bùi Văn C về vị trí ranh đất giữa các bên (thuộc phần đất tranh chấp phía sau) tại vị trí mốc M24.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hùng K về việc yêu cầu ông Bùi Văn Đ, bà Đinh Thị B giao trả đất.
- Căn cứ Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự đình yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hùng K đối với phần đất tranh chấp từ Lộ bê tống đến giáp ông Bạch N4 giữa ông K với ông T thuộc các mốc M40, 41, 55, 56 và giữa ông K với ông Đ, bà B thuộc các mốc M42, 43, 47, 48 (có bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5 kèm theo).
Ông Đào Minh T, anh Đào Việt Thắng thống nhất giao cho ông Trần Hùng K quản lý sử dụng phần đất theo bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5 có vị trí, kích thước, diện tích theo đo đạc thực tế như sau: Mặt tiền giáp Lộ bê tông mốc M19 - A dài 0,22m; mặt hậu giáp thửa số 2 bản vẽ hiện trạng mốc M12 - B dài 1.415m; cạnh bên phải (nhìn từ mặt tiền) giáp với phần đất còn lại của ông K mốc M12 - M19 cạnh dài 88,34m. Diện tích thực tế là 71,9m² tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Ông Trần Hùng K, bà Lê Thị T1, chị Trần Thị Thùy M, chị Trần Thị Thùy D thống nhất giao cho ông Đào Minh T quản lý, sử dụng phần đất theo bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5 có vị trí, kích thước, diện tích theo đo đạc thực tế như sau: Mặt tiền giáp Lộ bê tông mốc M4 - A dài 0,22m; mặt hậu giáp thửa số 2 bản vẽ hiện trạng mốc M8 - B dài 1.415m; cạnh bên phải (nhìn từ mặt tiền) giáp với phần đất còn lại của ông T mốc M4 - M8 dài 88,56m; cạnh bên trái (nhìn từ mặt tiền) giáp với phần đất của ông T giao cho K mốc A - B dài 88,43 m. Diện tích thực tế là 110,5m² tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Buộc ông Bùi Văn Đ, bà Đinh Thị B, anh Bùi Văn C, chị Nguyễn Sa L giao trả cho ông Trần Hùng K phần đất mốc M22, C dài 01m phóng thẳng đến mốc M24, diện tích 22,1m² (có bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5 kèm theo)
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 bị đơn là ông Bùi Văn Đ và bà Đinh Thị B cùng với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Văn C, chị Nguyễn Sa L có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hùng K.
Ngày 14 tháng 6 năm 2024 nguyên đơn là ông Trần Hùng K có đơn kháng cáo với nội dung: Yêu cầu sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện, giao trả hết phần đất tranh chấp theo bản vẽ của Công ty T5 cho nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn ông Trần Hùng K rút yêu cầu kháng cáo. Bị đơn ông Bùi Văn Đ, bà Đinh Thị B và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Bùi Văn C, chị Nguyễn Sa L vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông K. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đ, bà B, anh C, chị Sa L. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 72/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình. Cụ thể: Điều chỉnh lại vị trí các điểm phân chia đất tranh chấp theo Bản vẽ hiện trạng cho phù hợp thực tế, giao cho ông K phần đất vị trí từ điểm M22 đo qua đến vị trí tâm điểm cái cống, từ vị trí tâm điểm cái cống đo qua điểm M34 là đất của ông Đ, bà B. Cái cống bê tông hai bên tiếp tục sử dụng chung để xổ, lấy nước ra vào phục vụ cho việc nuôi trồng thủy sản.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét kháng cáo của các đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Nguyên đơn ông Trần Hùng K kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm với lý do: Án sơ thẩm đã tuyên chia đôi phần đất ông K tranh chấp với ông Đào Minh T và ông Đào Việt T2 là chưa đúng nên yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng giao hết phần đất tranh chấp này theo bản vẽ hiện trạng cho ông K; kháng cáo đối với phần đất tranh chấp với ông Bùi Văn Đ và bà Đinh Thị B do án sơ thẩm chỉ buộc ông Đ và bà B giao trả 22,1m² cho ông nên yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án theo hướng giao hết phần đất tranh chấp này cho ông K. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn là ông Trần Hùng K rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo xét thấy việc rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo là sự tự nguyện của ông K và phù hợp quy định pháp luật nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông K.
Đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn Đ, bà Đinh Thị B, anh Bùi Văn C, chị Nguyễn Sa L kháng cáo bản án sơ thẩm do đã buộc các ông bà giao trả cho ông K phần đất 22,1m² theo bản vẽ của Công ty T5 với lý do: Tòa sơ thẩm xét xử giao hết cho ông K là chưa phù hợp vì sẽ bít hết ống bọng bơm nước vào vuông tôm của các ông, bà. Ngoài phần đường nước này các ông bà không còn đường nước nào khác để dẫn vào vuông tôm. Yêu cầu xem xét phần chi phí đo đạc, thẩm định giá các ông bà không đồng ý chịu vì ngoài phần tranh chấp này ông K còn tranh chấp với những người khác giải quyết trong cùng vụ án.
[2] Hội đồng xét xử xét thấy lý do kháng cáo của ông Đ, bà B, anh C và chị Sa L là không có cơ sở chấp nhận bởi lẽ:
[2.1] Phần đất tranh chấp giữa ông K với ông T theo đo đạc gồm thửa số 2,6, 7, 9, 14 diện tích 685,7 m² và đất tranh chấp giữa ông K với ông Đ, bà B là thửa 11, 16 diện tích 167,5 m².
Đối với phần đất tranh chấp giữa ông T và ông K án sơ thẩm ghi nhận thỏa thuận và tại phiên tòa phúc thẩm ông K đã rút đơn kháng cáo, ông T không kháng cáo nên xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông K, án sơ thẩm tuyên xử phần diện tích tranh chấp này sẽ có hiệu lực.
Đối với phần đất tranh chấp giữa ông K và ông Đ, bà B, anh C, chị Sa L tại thửa 11 là một con mương diện tích 145 m² hai bên tranh chấp đất đều có trồng dừa theo thẩm định cả hai bên cùng quản lý con mương để lấy nước nuôi tôm và hai bên có đặt một ống nước đường kính 3 tất dài 12m để lấy nước vào.
Xem xét thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp tại hồ sơ không thể hiện khi cấp đất có đo đạc cụ thể, do đó không thể căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để xét phần đất tranh chấp là của ai mà việc sử dụng đất của các bên chỉ dựa vào thực tế quá trình quản lý sử dụng đất. Bà B cho rằng lúc cho đất vợ chồng bà thì ông C2 chỉ giáp đất với ông K có đường mương chiều ngang khoảng 2m, đường mương này ông C2 đào ở đoạn sau, ông K đào ở đoạn giữa khoảng vài tầm để đắp nền nhà, còn đoạn gần mặt tiền thì ông Đ, bà B đào. Khi vợ chồng bà về canh tác đất thì đường mương đã có sẵn rồi, ông K đã có trồng hàng dừa cặp đường mương, đến hiện tại đường mương nước này từ trước đến nay vẫn còn. Khi chuyển dịch sang nuôi tôm ông Đ, bà B và ông K cùng sử dụng để lấy nước vào vuông và có đặt đường ống lấy nước chung. Lời trình bày của bà B cho thấy ông K có đào mương và giữa ông K và ông Đ, bà B cùng sử dụng chung đường mương đã ổn định, lâu dài.
Do đó có cơ sở phần đất tranh chấp là mương chung nên chia đôi phần đất tranh chấp tại các mốc M22, M34. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm ông K chỉ yêu cầu ông Đ, bà B trả lại đất cho ông theo đo đạc phần đất chiều ngang tính từ mốc M22 đo qua mốc M34 là 01m là có căn cứ phù hợp với nhận định trên.
Phần đất tranh chấp ở phía sau: Tại phiên tòa sơ thẩm ông K, bà T1, chị M, chị D với bà B, anh C thống nhất ranh đất giữa các bên là tại vị trí mốc M24, sự thống nhất của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội nên án sơ thẩm ghi nhận là phù hợp.
Từ những cơ sở nhận định nêu trên nên bản án sơ thẩm ghi nhận sự thỏa thuận ranh đất giữa ông K với ông Đ, bà B tại mốc M24 và phóng thẳng đến mốc M22 từ mốc M22 đo qua điểm B là 01m nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông K đối với ông Đ, bà B. Buộc ông Đ, bà B, anh C, chị Sa L giao cho ông K quản lý, sử dụng phần đất mốc M22 – cạnh B dài 01m, phóng thẳng đến mốc M24 với tổng diện tích 22,1m² là đã có lợi cho phía ông Đ và bà B.
[2.2] Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự là ông Đ, bà B, anh C, chị Sa L cho rằng: Nếu chấp nhận quyết định như án sơ thẩm tuyên buộc thì sẽ không còn đường ống nước nào để dẫn nước ra vô vuông tôm.
Xét theo thẩm định thì tại phần đất có đường ống lấy nước đường kính 3 tất dài 12m phía bị đơn cho rằng có một phần nằm trên đất giao ông K nên không thể sử dụng. Tuy nhiên tại tòa cả hai bên thừa nhận thực tế cả hai bên đều không còn sử dụng đường ống lấy nước này mà các bên đều đã có đường lấy nước khác. Bị đơn cho rằng đường nước đang sử dụng hiện tại là nhờ của người khác còn nguyên đơn cho rằng đường nước hiện tại bị đơn đang sử dụng đó là chỉ lấy nước duy nhất vào vuông của phía bị đơn không phải nhờ của người khác. Tuy nhiên nguyên đơn cũng có thiện chí sẵn sàng nhượng lại phần đất có đường ống nước cũ trước đây hai bên sử dụng cho bị đơn nhưng phía bị đơn phải hoàn lại giá trị đất, phía bị đơn không đồng ý mà yêu cầu lấy toàn bộ phần đất có đường ống để sử dụng mà không phải hoàn lại giá trị.
Như đã nhận định trên, một phần đường ống lấy nước là nằm trên đất ông K nên việc bị đơn yêu cầu nhận hết đất mà không trả lại giá trị là không có căn cứ chấp nhận, do án sơ thẩm tuyên xử chỉ buộc bị đơn trả 22,1m² mà không chia đôi phần mương tranh chấp là đã có lợi cho phía bị đơn. Do vậy nếu không sử dụng mương nước cũ thì phía bị đơn tự mình làm đường ống lấy nước khác trên phần đất của mình để sử dụng mà không phải không có đường lấy nước vô ra như bị đơn trình bày.
Đối với giá trị đường ống lấy nước mỗi bên có quyền sử dụng chỉ 1/2 nên nếu thực tế đường ống này nằm trên đất thuộc quyền sử dụng nguyên đơn thì bị đơn có quyền yêu cầu ông K hoàn trả lại 1/2 giá trị đường ống. Tại phiên tòa phúc thẩm phía bị đơn cho rằng giá trị làm đường ống mới hiện tại từ 5 đến 6 triệu đồng, tuy nhiên đường ống trên đất đã sử dụng thời gian dài giá trị thực tế sẽ thấp hơn hiện tại khi làm ống mới. Mặc khác vấn đề này trong suốt quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm cũng như đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay phía bị đơn không ai đặt ra yêu cầu nguyên đơn hoàn trả 1/2 giá trị đường ống lấy nước này nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không thể xem xét giải quyết trong cùng vụ án. Các đương sự có thể tự thỏa thuận với nhau nếu không thỏa thuận được mà phát sinh tranh chấp thì bị đơn có quyền yêu cầu khởi kiện giải quyết bằng vụ án khác.
[2.3] Đối với kháng cáo về chi phí tố tụng đo đạc, thẩm định giá bị đơn không đồng ý chịu vì ngoài phần tranh chấp này ông K còn tranh chấp với những người khác giải quyết trong cùng vụ án.
Xét ông K đã nộp chi phí đo đạc số tiền 30.435.000 đồng (BL223) và chi phí định giá số tiền 8.000.000 đồng (BL220), tổng cộng là 38.435.000 đồng do ông K và ông T thỏa thuận mỗi bên sử dụng một phần phần đất tranh chấp nên mỗi bên phải chịu một phần chi phí tố tụng. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông K đối với ông Đ, bà B được chấp nhận nên ông Đ, bà B phải chịu một phần chi phí tố tụng, cụ thể: Ông K tự chịu 12.811.000 đồng (làm tròn số); ông T hoàn lại cho ông K số tiền 12.811.000 đồng (làm tròn số); ông Đ, bà B hoàn lại cho ông K số tiền 12.811.000 đồng (làm tròn số). Như vậy án sơ thẩm đã chia đều chi phí này để buộc tất cả các đương sự cùng chịu là có căn cứ, nên không có cơ sở xem xét chấp nhận kháng cáo phần này.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm người kháng cáo không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào mới ngoài các tài liệu chứng cứ đã được xem xét ở cấp sơ thẩm nên không có căn cứ xem xét để chấp nhận kháng cáo của ông Đ, bà B, anh C chị Sa L.
[4] Từ những phân tích trên, bản án sơ thẩm tuyên xử là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật. Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Hùng K. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Đ, bà B, anh C, chị Sa L. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2024/DS-ST ngày 30/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đ, bà B, anh C, chị Sa L, sửa bản án sơ thẩm là không phù hợp với nhận định trên nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[6] Về án phí án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định. Ông K có kháng cáo nhưng đã rút yêu cầu kháng cáo tại phiên tòa nên ông K cũng phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 289, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Hùng K.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Bùi Văn Đ, bà Đinh Thị B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Văn C, chị Nguyễn Sa L.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 72/2024/DS-ST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Thới Bình.
Tuyên xử:
- Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Trần Hùng K, bà Lê Thị T1, chị Trần Thị Thùy M, chị Trần Thị Thùy D với ông Đào Minh T, anh Đào Việt Thắng cụ thể như sau:
- Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa ông Trần Hùng K, bà Lê Thị T1, chị Trần Thị Thùy M, chị Trần Thị Thùy D với bà Đinh Thị B, anh Bùi Văn C về vị trí ranh đất giữa các bên (thuộc phần đất tranh chấp phía sau) tại vị trí mốc M24.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hùng K về việc yêu cầu ông Bùi Văn Đ, bà Đinh Thị B giao trả đất.
- Căn cứ Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự đình yêu cầu khởi kiện của ông Trần Hùng K đối với phần đất tranh chấp từ Lộ bê tống đến giáp ông Bạch N4 giữa ông K với ông T thuộc các mốc M40 – 41 – 55 - 56 và giữa ông K với ông Đ, bà B thuộc các mốc M42 – 43 – 47 - 48 (có bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5 kèm theo).
- Thành quả lao động: Không xem xét.
- Ngân hàng N5 – Chi nhánh huyện T không có yêu cầu gì nên không xem xét.
- Về chi phí tố tụng: Ông Trần Hùng K tự chịu 12.811.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm mười một nghìn đồng, làm tròn số) ông K đã nộp xong. Buộc ông Đào Minh T hoàn lại cho ông Trần Hùng K số tiền 12.811.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm mười một nghìn đồng, làm tròn số). Buộc ông Bùi Văn Đ, bà Đinh Thị B hoàn lại cho ông Trần Hùng K số tiền 12.811.000 đồng (Mười hai triệu tám trăm mười một nghìn đồng, làm tròn số).
- Về án phí:
- + Ông Trần Hùng K phải chịu án phí số tiền 388.000 đồng. Ngày 28/4/2023 ông K đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 600.000 đồng theo các biên lai số 0003559 và 0003560 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Bình được đối trừ ông K được nhận lại số tiền 212.000 đồng (Hai trăm mười hai nghìn đồng)
- + Ông Đào Minh T phải chịu số tiền 596.000 đồng (Năm trăm chín mươi sáu nghìn đồng).
- + Ông Bùi Văn Đ, bà Đinh Thị B phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- + Ông Trần Hùng K phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền 300.000 đồng. Ngày 17/6/2024 ông K đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo lai thu số 0016288 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu.
- + Ông Bùi Văn Đ, bà Đinh Thị B, anh Bùi Văn C, chị Nguyễn Sa L phải chịu mỗi người là 300.000 đồng. Ngày 11/6/2024 anh Bùi Văn C đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo lai thu số 0016271 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu. Ông Bùi Văn Đ, bà Đinh Thị B, chị Sa L chưa dự nộp.
Ông Đào Minh T, anh Đào Việt Thắng thống nhất giao cho ông Trần Hùng K quản lý sử dụng phần đất theo bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5 có vị trí, kích thước, diện tích theo đo đạc thực tế như sau: Mặt tiền giáp Lộ bê tông mốc M19 - A dài 0,22m; mặt hậu giáp thửa số 2 bản vẽ hiện trạng mốc M12 - B dài 1.415m; cạnh bên phải (nhìn từ mặt tiền) giáp với phần đất còn lại của ông K mốc M12 - M19 cạnh dài 88,34m. Diện tích thực tế là 71,9m² tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Ông Trần Hùng K, bà Lê Thị T1, chị Trần Thị Thùy M, chị Trần Thị Thùy D thống nhất giao cho ông Đào Minh T quản lý, sử dụng phần đất theo bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5 có vị trí, kích thước, diện tích theo đo đạc thực tế như sau: Mặt tiền giáp Lộ bê tông mốc M4 - A dài 0,22m; mặt hậu giáp thửa số 2 bản vẽ hiện trạng mốc M8 - B dài 1.415m; cạnh bên phải (nhìn từ mặt tiền) giáp với phần đất còn lại của ông T mốc M4 - M8 dài 88,56m; cạnh bên trái (nhìn từ mặt tiền) giáp với phần đất của ông T giao cho K mốc A - B dài 88,43 m. Diện tích thực tế là 110,5m² tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Buộc ông Bùi Văn Đ, bà Đinh Thị B, anh Bùi Văn C, chị Nguyễn Sa L giao trả cho ông Trần Hùng K phần đất mốc M22 - C dài 01m phóng thẳng đến mốc M24 - diện tích 22,1m² (có bản vẽ hiện trạng bổ sung của công ty T5 kèm theo)
Kể từ ngày, ông K có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông T, ông Đ, bà B chậm thanh toán khoản tiền nêu trên cho ông K thì phải chịu lãi suất chậm trả theo khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Châu Minh Hoàng |
Bản án số 339/2024/DS-PT ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 339/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
