|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 339/2024/HS-ST Ngày: 28/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Ngô Thị Thúy
- 2. Bà Nguyễn Thị Kim Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hà Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân A - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm, thụ lý số 325/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 333/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Phi H - Sinh ngày 08 tháng 3 năm 1984 tại tỉnh Thái Nguyên. Nơi ĐKHKTT: Tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Đỗ Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị K; Chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị giam giữ ngày nào, hiện đang tại ngoại tại địa phương. (Có mặt)
* Bị hại: Anh Dương Văn C, sinh năm 1988 (có mặt)
Trú tại: xóm T, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Cao Minh T1, sinh năm 1983. (vắng mặt)
Trú tại: xóm Đ, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Mạnh T2, sinh năm 1980. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 2000. (vắng mặt)
- Anh Dương Trọng T3, sinh năm 2000. (vắng mặt)
Trú tại: xóm T, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Trú tại: xóm C, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
Trú tại: xóm C, xã H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 10/5/2024, anh Dương Văn C, sinh năm 1988 và anh Nguyễn Mạnh T2, sinh năm: 1980 có cùng nơi ĐKHKTT: tại xóm T, xã H, thành phố T đến quán của anh Cao Minh T1 sinh năm 1983, thuộc xóm Đ, xã H thành phố T uống rượu. Lúc này, Đỗ Phi H cùng một số người khác đang ăn uống tại bàn khác trong quán. Do có quen biết từ trước với anh T2 nên H đến bàn của anh T2 mời rượu và ngược lại khi H về bàn thì anh T2 và anh C đến bàn của H mời rượu. Khi T2, C đang mời rượu thì những người ngồi cùng bàn của H ra về nên ba người tiếp tục cùng nhau uống rượu. Lúc này do say rượu nên H và C mâu thuẫn cãi chửi nhau. H cầm điếu cày bằng tre vụt một cái trúng theo chiều từ phải qua trái trúng vào vùng mặt của anh C gây thương tích chảy máu rồi H bỏ chạy khỏi hiện trường. Anh C được đưa đến bệnh viện T4 để cấp cứu và điều trị. Ngày 11/5/2024 chị Dương Thị Hải A1 sinh năm 1990, trú tại xóm T, xã H, thành phố T là em gái ruột của anh C đến công an xã H, thành phố T trình báo sự việc.
* Hậu quả:
Anh C bị chảy máu nhiều ở mũi, sung nề má trái, gãy xương cung tiếp thành ngoài ổ mắt trái, vỡ thành trước sau xoang hàm phải gây tụ dịch trong xoang hàm trái.
- Tại Kết luận giám định số 433/KLTTCT-TTPY ngày 20/6/2024 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận:
- Các kết quả chính:
- Sẹo gò má trái, tỷ lệ 3%.
- Gãy xương cung tiếp tỷ lệ 8%.
- Gãy xương thành ngoài ổ mắt trái tỷ lệ 5%.
- Vỡ xoang hàm tỷ lệ 7%.
- Kết luận: Căn cứ thông tư 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Dương Văn C tại thời điểm giám định là 21%. Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động của vật tày.
Cộng 3% + 8% + 5% + 7% = 21,15% (làm tròn 21%)
Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Phi H đã thừa nhận hành vi của mình. Lời khai nhận của H phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản sự việc; Lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định.
Vật chứng của vụ án:
- 01 USB chứa đoạn video clip ghi lại hình ảnh sự việc. Hiện được chuyển theo hồ sơ vụ án.
- 01 điếu cày bằng tre hình trụ tròn, đã qua sử dụng kích thước 65 x 4,2cm. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đỗ Phi H đã bồi thường cho anh C 43.000.000 đồng. Anh C đã nhận và không yêu cầu đề nghị gì khác.
Tại cáo trạng số 324/CT-VKSTPTN, ngày 30/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Đỗ Phi H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đỗ Phi H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 30 tháng đến 36 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 USB chứa đoạn video clip ghi lại hình ảnh sự việc.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 điếu cày bằng tre hình trụ tròn, đã qua sử dụng kích thước 65 x 4,2cm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không tranh luận gì, tại lời nói sau cùng bị cáo ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy, những người này đều có đơn xin được xét xử vắng mặt và đã được cơ quan điều tra lấy lời khai, những lời khai này đều phù hợp với nhau, phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục phiên tòa.
[2]. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, vật chứng vụ án, hồ sơ bệnh án, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 23 giờ ngày 10/5/2024, tại khu vực xóm Đ, xã H, thành phố T, do mâu thuẫn trong lúc uống rượu, Đỗ Phi H có hành vi dùng điếu cày gây thương tích cho anh Dương Văn C với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 21%. Về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho anh C số tiền 43.000.000 đồng. Phần dân sự đến nay đã giải quyết xong.
Với hành vi trên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Đỗ Phi H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a, Dùng ... hung khí nguy hiểm...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong những trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.”
[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã gây thiệt hại đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự.
[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, có thái độ thành khẩn, ăn năn, hối cải. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có mẹ là bà Nguyễn Thị K được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5]. Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Nguyên nhân của sự việc xuất phát từ việc bị cáo và bị hại trong quá trình uống rượu hai bên có lời qua tiếng lại, cãi chửi nhau, do bực tức nên bị cáo có hành vi dùng điếu cày đánh gây thương tích cho bị hại. Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra đã tích cực bồi thường toàn bộ cho bị hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, có căn cứ áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương, cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật nhà nước ta.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[6]. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, bị hại không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về vật chứng vụ án:
- 01 USB bên trong chứa đoạn video ghi lại hình ảnh diễn biến sự việc. Đây là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.
- 01 điếu cày bằng tre hình trụ tròn, đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng, anh T1 không có yêu cầu gì nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Phi H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Phi H 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (sáu mươi tháng) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo, theo quy định tại Điều 93 Luật thi hành án Hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã bồi thường xong, không ai có yêu cầu gì nên không xem xét.
3. Vật chứng vụ án:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 điếu cày bằng tre hình trụ tròn, đã qua sử dụng kích thước 65 x 4,2cm.
- Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 USB bên trong chứa đoạn video ghi lại hình ảnh diễn biến sự việc.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 47 ngày 26/11/2024 giữa Công an thành phố T với Chi cục THADS thành phố T).
4. Án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đỗ Phi H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Quỳnh |
Bản án số 339/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 339/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Gây thương tích
