|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 339/2024/HS-ST Ngày 26-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Văn Cường;
- Ông Tô Văn Nhung.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Việt Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Luân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 20, 26 tháng 11 năm 2024 tại Hội trường A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 325/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 353/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thanh T, sinh năm 1994 tại tỉnh Cà Mau; thường trú: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1971 và bà Châu Thị L, sinh năm 1971; bị cáo có 02 anh chị ruột, lớn sinh năm 1990 (đã chết), nhỏ sinh năm 1992; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/5/2024 đến nay; có mặt.
- Lê Chí T1, sinh năm 1993 tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú: Ấp Văn S, xã Đ, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê T2, sinh năm 1943 và bà Đỗ Thị P; sinh năm 1958; có vợ tên Tăng Thị Hồng L1, sinh năm 1989; có 01 con ruột, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/5/2024 đến nay; có mặt.
- Nguyễn Văn H1, sinh năm 1990 tại tỉnh Nam Định; thường trú: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Thợ sơn nước; trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1968 và bà Trần Thị X, sinh năm 1971; bị cáo có vợ tên Trần Thị T3, sinh năm 1991; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2017, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 10/3/2010 của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xử phạt 9 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 24/9/2010, đã xóa án tích; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/5/2024; có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Chị Tăng Thị Hồng L1, sinh năm 1989; địa chỉ: Số B đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Chị Trần Thị A, sinh năm 1990; địa chỉ: Số B đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có mặt.
Người chứng kiến:
- Anh Lưu Văn P1, sinh năm 1992, vắng mặt;
- Anh Phạm Lương T4, sinh năm 2005, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh T; Nguyễn Văn H1 và Lê Chí T1 quen biết nhau và đều là những đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy.
Do T không có việc làm ổn định, để có tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định bán ma túy kiếm lời. Ngày 27/04/2024, T đến khu vực vòng xoay A thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, gặp một nam thanh niên tên K (không rõ lai lịch) hỏi mua 4.500.000 đồng ma túy, K bán cho T 01 (một) túi ma túy Methamphetamine. Sau khi mua được ma túy, T đến thuê phòng số 301 nhà nghỉ N1, địa chỉ số C, đường A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, để ở và cất giấu ma túy. Tại đây, T sử dụng cân tiểu ly điện tử, túi nylon và kéo để phân chia ma túy thành nhiều gói nhỏ nhằm bán cho ai có nhu cầu. Trong thời gian cư trú tại nhà nghỉ N1, T đã lấy ma túy ra sử dụng một mình trong phòng và đã bán ma túy cho H1 và T1, cụ thể như sau:
- - Ngày 28/04/2024, T1 sử dụng tài khoản Zalo tên “Lê Chí T1” liên lạc đến tài khoản Zalo tên “Max Matrix” của T hỏi mua 200.000 đồng ma túy thì được T bán cho 01 (một) gói nylon hàn kín chứa ma túy Methamphetamine. Tăm trả tiền cho T bằng cách chuyển khoản qua ví điện tử MoMo.
- - Ngày 29/04/2024, H1 sử dụng tài khoản Zalo tên “Phương N” liên lạc đến tài khoản Zalo tên “Hang” của T hỏi mua 300.000 đồng ma túy thì được T bán cho 01 (một) gói nylon hàn kín chứa ma túy Methamphetamine, H1 trả tiền mặt cho T.
- - Ngày 01/05/2024 với cách thức liên lạc như trên T tiếp tục bán cho T1 01 (một) gói nylon hàn kín chứa ma túy Methamphetamine với giá 200.000 đồng, T1 trả tiền bằng cách chuyển khoản qua ví điện tử MoMo và T cũng bán cho H1 01 (một) túi nylon hàn kín chứa ma túy Methamphetamine với giá 300.000 đồng, H1 trả tiền mặt cho T.
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 01/5/2024, Đội Cảnh sát Kinh tế và Ma túy Công an thành phố D, phối hợp Công an phường A, tuần tra đến trước nhà số C đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn H1 đang điều khiển xe môtô biển số 72F6-6444, có hành vi cất giấu bên trong túi quần Jean bên phải phía trước đang mặc 01 (một) gói nylon hàn kín chứa ma túy Methamphetamine, H1 khai nhận số ma tuý này H1 vừa mua của T tại phòng 301 nhà nghỉ N1, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, với số tiền 300.000 đồng.
Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được, Đội Cảnh sát Kinh tế và Ma túy Công an thành phố D, phối hợp với Công an phường D tiến hành kiểm tra và xác định địa điểm nơi đối tượng H1 mua ma túy tại nhà nghỉ N1. Khi đến quầy lễ tân phát hiện bắt quả tang T1 đang dắt xe môtô biển số 83D1- 29748 có hành vi cất giấu 01 (một) gói nylon hàn kín chứa ma túy Methamphetamine, bên trong ví da màu đen để trong túi quần Jean phía sau bên phải của T1 đang mặc. Lúc này, T1 khai nhận số ma tuý T1 vừa mua của T tại phòng 301 nhà nghỉ N1 với số tiền 200.000 đồng.
Căn cứ tài liệu chứng cứ thu thập được, Đội Cảnh sát Kinh tế và Ma túy Công an thành phố D phối hợp với Công an phường D tiếp tục tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thanh T tại phòng 301, nhà nghỉ N1, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tại thời điểm lực lượng Công an khám xét có mặt Nguyễn Thanh T và Trần Thị A ở trong phòng 301. Lúc này, A vừa mang đồ ăn đến cho T được khoảng 05 phút và đang ngồi nói chuyện với T ở trong phòng. Khi nghe tiếng gõ cửa thì do lo sợ bị phát hiện chất ma túy nên T kêu A lấy hộp giấy để trên giường mang đi vứt bỏ, A thấy T hoảng loạn không biết trong hộp giấy đựng đồ vật gì thì cũng làm theo và cầm hộp giấy vào nhà vệ sinh đổ dốc những đồ vật có trong hộp giấy xuống bồn cầu trong nhà vệ sinh, còn hộp giấy để trên nắp bồn cầu, cùng lúc này thì lực Công an vào trong phòng, yêu cầu giữ nguyên vị trí và tiến hành thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với T tại phòng 301, nhà nghỉ N1. Qua khám xét phát hiện và thu giữ:
- - Dưới bàn gỗ có một bộ dụng cụ sử dụng ma túy Methamphetamine gồm: chai thủy tinh gắn 01 ống hút nhựa và 01 nỏ thủy tinh còn chứa một ít ma túy Methamphetamine là số ma túy mà T sử dụng chưa hết;
- - 01 (một) cây kéo bằng inox để dưới gầm giường;
- - Trong bồn cầu nhà vệ sinh có: 01 (một) cân điện tử có chữ Manlloro; 03 (ba) túi nylon miệng kéo dính đều chứa tinh thể màu trắng là ma túy Methamphetamine; 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa 07 (bảy) gói nylon hàn kín đều chứa tinh thể màu trắng là ma túy Methamphetamine; 01 hộp giấy để trên bồn nước của bồn cầu.
T khai nhận tất cả những đồ vật trên đều là của T, trong đó số ma túy còn lại trong nỏ thủy tinh là của T đang sử dụng nhưng chưa hết và T cất giấu nhằm mục đích sử dụng, còn số ma túy trong các gói và túi nylon là của T cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Sau đó lực lượng Công an lập biên bản, thu giữ và niêm phong tang vật, đưa về trụ sở lập hồ sơ xử lý.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với T, H1, T1 đều dương tính với M, riêng A thì âm tính với ma túy.
Tại kết luận giám định số 2165/KL-KTHS (MT) ngày 09 tháng 05 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu xám vàng và Các mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,0579 gam (M1); 7,7425 gam (M2-1); 1,6554 gam (M2-2) (thu giữ của T); 0,1194 gam (M3) (thu giữ của T1); 0,1944 gam (M4) (thu giữ của H1).
Tại cáo trạng số: 324/CT – VKS- DA ngày 09 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Lê Chí T1, Nguyễn Văn H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố đối với T1 và H1, đối với bị cáo T đại diện Viện kiểm sát rút khởi tố đối với tình tiết “Đối với 02 người trở lên” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 7 năm 6 tháng đến 8 năm 6 tháng tù.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Chí T1 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; bị cáo Nguyễn Văn H1 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
- * Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- + 04 (bốn) bì thư được niêm phong ghi số 2165M1/PC09; 2165M2/PC09; 2165M3/PC09; 2165M4/PC09. Khối lượng mẫu niêm phong: M1= 0,0371 gam và 01 nỏ thủy tinh; M2-1= 7,4109 gam; M2-2= 1,5260 gam; M3= 0,0779 gam; M4= 0,1346 gam đều là ma túy, loại Methamphetamine đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- + 01 (một) ví da màu đen không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- + 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai thủy tinh và 01 ống hút nhựa; 01 (một) cây kéo inox; 01 (một) cân điện tử có ghi chữ Manlloro; 01 (một) hộp giấy là các dụng cụ bị cáo T sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A7 gắn sim số 0392667078 là điện thoại di động bị cáo H1, sử dụng nhằm mục đích đăng nhập tài khoản Zalo tên “Phương N” liên lạc với bị cáo T qua tài khoản tên “Hang” để mua ma túy về sử dụng, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y51 là điện thoại di động bị cáo T1, sử dụng để đăng nhập tài khoản Zalo tên “Lê Chí T5”, nhằm liên lạc với bị cáo T5 qua tài khoản tên “Max Matrix” để mua ma túy về sử dụng, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme 7 Pro là điện thoại di động bị cáo T5, sử dụng để đăng nhập tài khoản Zalo tên “Max Matrix” nhằm mục đích liên lạc với bị cáo T1 qua tài khoản tên “Lê Chí T5” và bị cáo H1 qua tài khoản tên “Phương N” để bán ma túy, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- + Đối với 01 (một) xe môtô biển số 83D1-297.48; Số khung: RLHKC4404NY013800; Số máy: KC34E5015014. Quá trình điều tra xác định, do T1 mượn của vợ tên Tăng Thị Hồng L1 để đi công việc, sau đó sử dụng xe môtô trên đi mua ma túy mà chị L1 không biết. Qua làm việc xác định chị Tăng Thị Hồng Lê sở hữu xe môtô biển số 83D1-297.48; Số khung: RLHKC4404NY013800; Số máy: KC34E5015014 từ tháng 09 năm 2022 là tài sản riêng của chị L1, đến tháng 04 năm 2023 thì chị L1 mới kết hôn với Lê Chí T1. Ngày 01/05/2024 T1 sử dụng xe môtô trên để đi mua ma túy về sử dụng thì chị L1 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành trả lại xe môtô trên cho chị Tăng Thị Hồng Lê .
- + Đối với 01 (một) xe môtô biển số 72F6-6444; Số khung: LXDXCHL07Y6012185; Số máy: 152FM00039751 thu giữ của bị cáo H1. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, đã tiến hành giám định số khung số máy. Tại Kết luận giám định số 3007/KL-KTHS ngày 20 tháng 06 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: Xe mô tô hai bánh (kiểu dáng WAVE), số loại 110, dung tích xilanh: 108 cm³, biển kiểm soát: 72F6-6444, số khung, số máy không đổi: Số khung LXDXCHL07Y6012185; Số máy 152FM00039751.
Qua xác minh biển số xe 72F6-6444; Số khung: LXDXCHL07Y6012185; Số máy: 152FM00039751 xác định chủ xe là bà Phạm Thị Kim T6, địa chỉ: A đường B, phường A, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Tiến hành xác minh tại địa chỉ trên không có người nào tên Phạm Thị Kim T6. Bị cáo H1 khai nhận vào ngày 01/05/2024 bị can H1 mượn xe môtô trên của một người tên H (không rõ nhân thân lai lịch) sử dụng để đi mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành xác minh nhưng không rõ thông tin nên chưa tiến hành làm việc được với đương sự H. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã đăng báo 03 ký liên tiếp vào các ngày 25, ngày 26 và ngày 27/05/2024 nhưng đến nay vẫn không ai đến làm việc và xác nhận là chủ xe môtô trên. Đối với xe môtô trên đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng đồng thời trong lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 28/4/2024, ngày 29/4/2024 và ngày 01/5/2024, tại phòng 301, nhà nghỉ N1, số C, đường số A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Thanh T đã thực hiện hành vi cất giấu ma túy loại Methamphetamine trọng lượng 9,3979 gam, nhằm mục đích bán kiếm lời và đã bán ma túy Methamphetamine cho Nguyễn Văn H1 và Lê Chí T1. Việc bán ma túy cho T1 và H1 không cùng về thời gian, T1 và H1 cũng không quen biết nhau. Hành vi của Nguyễn Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ngày 01/5/2024, trước nhà số C đường N, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Lê Chí T1 có hành vi cất giấu trong ví ở túi quần Jean bên phải phía sau ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng 0,1194 gam, nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của Lê Chí T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ngày 01/5/2024, tại quầy lễ tân nhà nghỉ N1, số C, đường số A, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Nguyễn Văn H1 có hành vi cất giấu trong túi quần Jean bên phải phía trước ma túy loại Methamphetamine, trọng lượng 0,1346 gam. Hành vi của Nguyễn Văn H1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng số: 324/CT-VKS-DA ngày 09 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố đối với bị cáo T1, H1 và việc rút truy tố tình tiết “Đối với 02 người trở lên” bị cáo T là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; các bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng và rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì để có ma túy sử dụng, có tiền sử dụng ma túy, mục đích tư lợi của bản thân mà các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[7] Về nhân thân: Các bị cáo là người có thân thân xấu thể hiện các bị các bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo H1 từng bị Tòa án xét xử về hành vi xâm phạm quyền sở hữu.
[8] Về hình phạt:
- - Hình phạt chính: Xét các bị cáo phạm tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, các bị cáo là người người nghiện ma túy đồng thời hành vi phạm tội của các bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- - Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” và theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[9] Đối với hành vi của Nguyễn Thanh T sử dụng trái phép chất ma túy Methamphetamine, trọng lượng còn lại trong nỏ là 0,0579 gam (M1). Do không đủ trọng lượng truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ban hành quyết định xử phạt hành chính số 62 ngày 20/9/2024, đối với Nguyễn Thanh T về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ số tiền 3.500.000 đồng là đúng quy định.
[10] Đối với hành vi của Trần Thị A mang hộp giấy đi vứt bỏ theo yêu cầu của T mà không biết bên trong chứa ma túy cho đến khi Công an thu giữ và nghe T khai nhận là ma túy Methamphetamine thì A mới biết. Do đó, hành vi của A chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không xử lý là có căn cứ.
Đối với người đàn ông tên K bán ma túy cho bị can T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý theo quy định.
[11] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: - Số tiền 1.000.000 đồng Tâm bán ma túy cho T1 và H1 vào các ngày 28, 29/4/2024 và 01/5/2024 là tiền thu lợi bất chính cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- - 04 (bốn) bì thư được niêm phong ghi số 2165M1/PC09; 2165M2/PC09; 2165M3/PC09; 2165M4/PC09. Khối lượng mẫu niêm phong: M1= 0,0371 gam và 01 nỏ thủy tinh; M2-1= 7,4109 gam; M2-2= 1,5260 gam; M3= 0,0779 gam; M4= 0,1346 gam đều là ma túy, loại Methamphetamine là vật cấm lưu thông cần tịch thu tiêu hủy. - 01 (một) ví da màu đen không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai thủy tinh và 01 ống hút nhựa; 01 (một) cây kéo inox; 01 (một) cân điện tử có ghi chữ Manlloro; 01 (một) hộp giấy là dụng cụ bị cáo T sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A7 là điện thoại di động bị cáo H1 là phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y51 là điện thoại di động bị cáo T1 là phương tiện phạm tội cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme 7 Pro là điện thoại di động bị cáo T là phương tiện phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- - Sim số 0392667078 không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) xe môtô biển số 83D1-297.48; Số khung: RLHKC4404NY013800; Số máy: KC34E5015014 là tài sản của chị Tăng Thị Hồng L1, T1 sử dụng xe môtô trên để đi mua ma túy, chị L1 không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành trả lại xe môtô trên cho chị Tăng Thị Hồng L1 là đúng quy định.
- - Đối với 01 (một) xe môtô biển số 72F6-6444; Số khung: LXDXCHL07Y6012185; Số máy: 152FM00039751 thu giữ của bị cáo H1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã đăng báo 03 ký liên tiếp nhưng không tìm được chủ sở hữu là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
[12] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[13] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lê Chí T1, Nguyễn Văn H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/5/2024.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Xử phạt bị cáo Lê Chí T1 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/5/2024.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H1 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 01/5/2024.
- Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; điểm a, c khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T nộp 1.000.000 (một triệu) đồng vào Ngân sách Nhà nước.
- - Tịch thu tiêu hủy 04 (bốn) bì thư được niêm phong ghi số 2165M1/PC09; 2165M2/PC09; 2165M3/PC09; 2165M4/PC09. Khối lượng mẫu niêm phong: M1= 0,0371 gam và 01 nỏ thủy tinh; M2-1= 7,4109 gam; M2-2= 1,5260 gam; M3= 0,0779 gam; M4= 0,1346 gam đều là ma túy, loại Methamphetamine; 01 (một) ví da màu đen; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai thủy tinh và 01 ống hút nhựa; 01 (một) cây kéo inox; 01 (một) cân điện tử có ghi chữ Manlloro; 01 (một) hộp giấy; sim số 0392667078.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A7 (bể mặt sau); 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y51; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme 7 Pro.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) xe môtô hai bánh (kiểu dáng Wave), dung tích xi lanh 108cm³, biển số 72F6-6444; Số khung: LXDXCHL07Y6012185; Số máy: 152FM00039751. Tình trạng xe: không có kính chiếu hậu bên phải, thắng đĩa sau không còn nguyên vẹn, không có yếm bảo vệ phía sau.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
Các bị cáo Nguyễn Thanh T, Lê Chí T1, Nguyễn Văn H1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Trung Hiếu |
Bản án số 339/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 339/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Tâm phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo Lê Chí Tăm, Nguyễn Văn Hiến phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
