|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK |
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 339/2023/HS-ST
Ngày 17/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hữu Long.
2. Bà Trần Thị Liên.
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Bình, Kiểm sát viên.
Ngày 17/11/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 344/2023/HS-ST ngày 20/10/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 355/2023/QĐXXST-HS ngày 03/11/2023 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Hoàng L, sinh ngày 02/4/2005, tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: 3 G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Pacô; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Nguyễn Thế L1, sinh năm 1975; con bà Hồ Thị C, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B; có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo L: Ông Ngô Đình K – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ.
Địa chỉ: B L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
2. Họ và tên: Nguyễn Lữ Anh T, sinh ngày 06/01/2006, tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Nguyễn Anh T1, sinh năm 1982; con bà Lữ Thị Phương L2, sinh năm 1984; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/3/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B; có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo T: Ông Nguyễn Anh T1 và bà Lữ Thị Phương L2 là bố mẹ của bị cáo T.
Địa chỉ: B V, phường K, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo T: Ông Trần Trung H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ.
Địa chỉ: B L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
3. Họ và tên: Trịnh Văn Đ, sinh ngày 06/9/2006, tại tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Trịnh Văn T2, sinh năm 1974; con bà Lê Thị H1, sinh năm 1978; bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/5/2023, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố B; có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đ: Bà Lê Thị H1 và ông Trịnh Văn T2 là bố mẹ của bị cáo Đ.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo Đ: Ông Trần Trung H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ.
Địa chỉ: B L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
Bị hại: Anh Phạm Thế H2, sinh ngày 27/10/2008.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Lan C1 và ông Phạm Gia Gia L3 là bố mẹ của bị hại H2.
Cùng địa chỉ: B A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; anh H2, ông L3 vắng mặt bà C1 có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Ông Nguyễn Đình Đ1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ.
Địa chỉ: B L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Kim L4, sinh ngày 09/10/2006.
- Người đại diện theo pháp luật: Bà Phạm Thị H3 là mẹ của Nguyễn Kim L4.
- Cùng địa chỉ: B A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; đều có mặt.
- - Anh Phạm Thế H4, sinh năm 1999.
- Nơi đăng ký HKTT: 244/5 A Ma Khê, phường Tự An, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Chổ ở: Hẻm 45, đường Cao Lỗ, Phường 4, Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 02 năm 2023, Nguyễn Hoàng L và Trịnh Văn Đ cùng nhau buôn bán online mặt hàng tinh dầu thuốc lá điện tử. L biết anh Phạm Thế H4 cũng buôn bán tinh dầu thuốc lá điện tử tại địa bàn thành phố B. Lúc này L không có tiền để mua tinh dầu thuốc lá điện tử để bán nên L nảy sinh ý gây khó khăn và cướp hàng tinh dầu thuốc lá điện tử của H4 để mang đi bán lại cho khách lấy tiền. Sau đó, L đã thử đặt hàng tinh dầu thuốc lá điện tử và được biết hiện H4 không có mặt tại thành phố B nên thường nhờ Phạm Thế H2 đi giao tinh dầu thuốc lá điện tử giúp H4.
Đến ngày 03 và ngày 04/3/2023, Nguyễn Hoàng L nói cho Trịnh Văn Đ biết về việc buôn bán của Phạm Thế H4 gây ảnh hưởng đến việc buôn bán của L và Đ nên rủ Đ cùng tham gia giúp sức cho L thực hiện kế hoạch cướp tinh dầu. L và Đ lập một tài khoản Zalo, Facebook để đặt tinh dầu thuốc lá điện tử của H4. Khi H4 đồng ý giao dịch thì L và Đ sẽ đến địa điểm hẹn để giao nhận tinh dầu. L sẽ là người đứng trên giả vờ việc chuyển khoản tiền mua tinh dầu thuốc lá điện tử, Đ sẽ xuống gặp người giao hàng để nhận số hàng đã đặt là tinh dầu thuốc lá điện tử rồi bỏ số hàng này vào trong cốp xe mô tô. L nói cho Đ biết về việc hiện H4 không có mặt tại thành phố B nên sẽ nhờ H2 có dáng người nhỏ bé ít tuổi, đến khu vực vắng người để giao nhận hàng. Khi H2 yêu cầu xem chuyển khoản tiền thì lấy lý do đã chuyển tiền qua I nhưng bị lỗi mạng rồi đe doạ, tạo sức ép về mặt tinh thần và chiếm đoạt số hàng hoá là tinh dầu thuốc lá điện tử này. Trường hợp nếu H2 không đồng ý và yêu cầu xem giao dịch chuyển tiền thì L và Đ sẽ dùng vũ lực, dùng tay chân đánh H2 để cướp các chai tinh dầu thuốc lá điện tử rồi mang đi bán lại kiếm lời thì Đ đồng ý. Đ hỏi L “có cần thêm người giúp không?” thì L nói “cần một người đi cùng anh là được”, Đ nói tiếp “để em rủ thằng T đi cùng giúp” thì L đồng ý. Sau đó, Đ kể nội dung kế hoạch trên cho bị can Nguyễn Lữ A T biết và rủ T tham gia giúp sức cho L thực hiện cướp tài sản là các chai tinh dầu thuốc lá điện tử thì T đồng ý. Đến khoảng 18 giờ ngày 05/3/2023, L hỏi Đ “Có rảnh không để cùng nhau thực hiện kế hoạch cướp tài sản” nhưng Đ bận đi làm thêm buổi tối nên Đ nói L “Anh rủ T cùng đi với anh, em nói cho T biết rồi” thì L đồng ý. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, L sử dụng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S, màu đen để nhắn tin hẹn T đến quán cà phê C2 để bàn kế hoạch đi cướp các chai tinh dầu thì T đồng ý. T đưa tin nhắn của L rủ T tham gia thực hiện kế hoạch cướp tài sản cho Đ xem thì Đ đồng ý và nói “đi giúp anh L, đi cẩn thận”. Sau đó T mượn xe máy biển kiểm soát 47AB-195.24 của Nguyễn Kim L4. L4 không biết T mượn xe máy để đi lấy 04 chai tinh dầu nên đã đồng ý cho T mượn. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, L4 đang ngồi uống cà phê với anh Nguyễn Ngọc H5 thì T điều khiển xe máy, nhãn hiệu YALIM, biển kiểm soát 47AB-195.24 đến. Tại đây, L4 và T cùng nhau thoả thuận về việc mở tài khoản giả để đặt hàng rồi đến lấy hàng, bỏ hàng vào cốp xe, giả vờ về việc đã chuyển tiền vào tài khoản của H4 để chiếm đoạt hàng là tinh dầu thuốc lá điện tử thì T đồng ý, còn H5 chỉ ngồi chơi Game trên điện thoại, không tham gia vào sự việc này. Sau đó, L4 nói T lập một tài khoản Zalo để đặt hàng nhưng do chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 7 plus, màu đen của T bị lỗi, không đăng ký mở tài khoản được nên L4 sử dụng số thuê bao 0394181434 gắn trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S, màu đen của L4 để lập một tài khoản Zalo tên “Vương H6” rồi
nhắn tin đến tài khoản Zalo của H4. L4 đặt hàng với số lượng 4 lọ tinh dầu thuốc lá điện tử, loại 5ml/1lọ/250.000 đồng, tổng số tiền đặt hàng là 1.000.000 đồng thì H4 đồng ý và hẹn đến đoạn ngã tư đường N và A, phường T, thành phố B để lấy hàng. L4 nói cho T biết người giao hàng là em của H4 ít tuổi, nhỏ con có thể khống chế, đánh để cướp tinh dầu. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 47AB-195.24, đặc điểm nêu trên chở L4 đi đến điểm hẹn lấy hàng, còn H5 đi về, không biết và không tham gia cùng L4 và T. Khi đi đến ngã tư đường N và A, L4 nói T xuống gặp H2 lấy hàng còn L4 đứng chờ giả vờ chuyển tiền cho H4. Tại đây, L4 nói với T “cứ lấy hàng mang lên bỏ cốp xe rồi nói với nó đã chuyển khoản tiền cho H4 qua I, còn nếu nó không đồng ý, đòi hỏi chuyển tiền thì đánh nó để cướp bằng được hàng” thì T đồng ý. Sau đó, T đi bộ đến trước ngôi nhà số B A, phường T, thành phố B gặp H2 để lấy hàng là 04 lọ tinh dầu thuốc lá điện tử, H2 hỏi T đưa tiền mặt hay chuyển khoản thì T nói “anh đang đứng trên kia chuyển tiền” rồi đi bộ lên vị trí của L4 đang đứng, còn H2 đi bộ theo sau T. Khi nhìn thấy T bỏ lọ tinh dầu thuốc lá điện tử vào trong cốp xe máy nhưng chưa đưa tiền, H2 yêu cầu phải xem màn hình chuyển tiền nhưng L4 không cho xem. H2 rút chìa khoá xe máy để không cho L4, T bỏ chạy. Thấy vậy, L4 dùng hai tay ôm vật H2 xuống lòng đường, còn T xông đến khống chế, đè giữ hai tay của H2 trước ngực để lấy lại chìa khoá xe rồi tẩu thoát nhưng không được. Do lo sợ có người đi đến nên L4 và T thả H2 ra, L4 nói “mày trả chìa khoá xe đây rồi tao chuyển tiền” thì Hoàng tưởng thật nên đứng dậy. Lúc này, L4 tiếp tục ôm Hoàng vật ngã xuống lòng đường, T xông đến dùng chân đá một cái trúng lưng H2, dùng tay đấm một cái vào đầu H2 để làm H2 không còn chống cự lại. Tuy nhiên, H2 vẫn chống cự quyết liệt, không lấy lại được chìa khoá xe để tẩu thoát thì L4 nói “mày tự mở cốp xe ra lấy lại hàng đi”. Khi thấy H2 vừa đưa chìa khoá xe vào trong ổ khoá thì L4 tiếp tục dùng hai tay ôm vật H2 xuống lòng đường để tìm cơ hội tẩu thoát, làm cho H2 bị xây xước da vùng gò má trái và cẳng tay trái, ngón út tay trái, gãy mắt kính đang đeo và vỡ màn hình điện thoại của H2 đang cầm trên tay, đồng thời làm gãy chiếc chìa khoá xe. Khi H2 tiếp tục chống cự thì T dùng hai tay ôm giữ H2 lại, còn L4 dắt xe bỏ chạy trước. H2 vùng vẫy, thoát khỏi tay T đang ôm rồi tiếp tục chạy đến giữ L4 để đòi lại tài sản là 04 lọ tinh dầu thuốc lá điện tử, đồng thời hô hét lớn cho người dân xung quanh biết. Do chìa khoá xe đã bị gãy không nổ xe máy được, có nhiều nhà dân xung quanh, L4 sợ bị phát hiện nên đã lấy 04 lọ tinh dầu thuốc lá điện tử từ trong cốp xe ra, trả lại cho H2 rồi L4 và T dắt bộ xe tẩu thoát, còn H2 đã lấy lại được tài sản là 04 lọ tinh dầu thuốc lá điện tử nên không đuổi theo mà đi bộ về nhà. Sau đó, T điều khiển chiếc xe gắn máy biển kiểm soát 47AB-195.24, về trả cho Nguyễn Kim L4 rồi đi về nhà. Ngày 06/3/2023, Phạm Thế H2 và chị Lê Thị Lan C1 là mẹ H2 làm đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để xử lý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tạm giữ: 04 lọ nhựa màu trắng, đựng dung dịch trong suốt, được đựng trong 04 hộp giấy màu đen, kích thước (2,5x2,5x9) cm, có dán tem giáp lai ghi chữ số “Long Cê 0858082039” chưa qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S, màu đen, 128GB, số Imei: 868256062116164, của Nguyễn Hoàng L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 7
plus, màu đen, số IMEI: 358544082771556, của Nguyễn Lữ Anh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme X7 Pro, màu tím, 128GB, số IMEL: 866172053548335, của Trịnh Văn Đ và 01 chiếc xe gắn máy, nhãn hiệu YALIM, biển kiếm soát 47AB-195.24, của Nguyễn Kim L4, là các tang vật chứng của vụ án để phục vụ công tác điều tra.
Ngày 22/5/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B có văn bản số 1189, yêu cầu định giá tài sản gồm: 04 lọ nhựa màu trắng, đựng dung dịch trong suốt, được đựng trong 04 hộp giấy màu đen, kích thước (2,5x2,5x9) cm, có dán tem giáp lai ghi chữ số “Long Cê 0858082039”, chưa qua sử dụng. Ngày 02/6/2023 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B có công văn số 04 trả lời từ chối định giá đối với tài sản.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 277/TgT-TTPY cùng ngày 21/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận: Phạm Thế H2 bị Đỏ da cổ trái, xước da khuỷu tay trái, xây xát các ngón tay bàn tay trái tại thời điểm giám định đã lành, không để sẹo, không làm biến đổi sắc tố da, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 0%; Xây xát để lại sẹo gò má trái, kích thước (0,8 x 0,4) cm, tỷ lệ: 3%. Vật tác động: Vật tày và vật tày có cạnh.
Tại bản kết luận giám định số 1406/KL-KTHT ngày 10/7/2023 của phân viện khoa học hình sự thành phố Đà Nẵng kết luận: Chất lỏng không màu đựng trong 04 (bốn) lọ nhựa màu trắng gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy ADB-BUTINACA; tổng thể tích chất lỏng là 20mL.
Hiện tại, V và Phân viện Khoa học hình sự tại TP . không có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy ADB-BUTINACA nên không thể xác định được nồng độ cũng như khối lượng chất ma túy ADB- BUTINACA trong các mẫu vật gửi giám định.
Tại bản Cáo trạng số: 275/CT-VKS - HS ngày 24/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Lữ Anh T và Trịnh Văn Đ, về tội: Cướp tài sản, theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo khai nhận: Hành vi phạm tội của các bị cáo như bản Cáo trạng đã nêu là đúng, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn tự nguyện.
Lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra là khách quan, đầy đủ.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng L mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
Xử phạt bị cáo Trịnh Văn Đ mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Lữ Anh T mức án từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ việc, gia đình của bị cáo L và T đã tự nguyện bồi thường cho Phạm Thế H2 tổng số tiền 5.000.000 đồng, gia đình bị cáo Đ đã tự nguyện bồi thường cho Phạm Thế H2 số tiền 2.000.000 đồng bị hại, người đại diện của bị hại tự nguyện làm đơn bãi nại, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo và không yêu cầu gì thêm.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S, màu đen, 128GB, của Nguyễn Hoàng L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 7 plus, màu đen, của Nguyễn Lữ Anh T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme X7 Pro, màu tím, 128GB, của Trịnh Văn Đ là các công cụ các bị cáo L, T và Đ dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với hành vi đánh gây thương tích 3%, làm hư hỏng các tài sản của Phạm Thế H2 của các bị cáo Nguyễn Hoàng L và Nguyễn Lữ Anh T. Quá trình điều tra Phạm Thế H2 không yêu cầu Cơ quan điều tra xử lý. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý là có căn cứ pháp luật.
Đối với 04 chai tinh dầu thuốc là điện tử. Ngày 05/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 1406 ngày 10/7/2023 của Phân viện khoa học hình sự thành phố Đà Nẵng, kết luận: Chất lỏng không màu đựng trong 04 lọ nhựa màu trắng mà Cơ quan điều tra gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy loại ADB-BUTINACA và chất ADB-4en-PINACA (ADB-4en-PINACA có tác dụng trương tự hoạt chất Delta-9-tetrahydrocanabinol có trong Cần sa, hiện nay chất ADB-4en-PINACA chưa nằm trong Danh mục các chất ma tuý và tiền chất do Chính phủ quy định). Tuy nhiên, hiện tại V và Phân viện Khoa học hình sự thành phố Đà Nẵng không có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy ADB-BUTINACA nên không thể xác định được nồng độ cũng như khối lượng chất ma túy ADB-BUTINACA trong mẫu vật gửi giám định.
Quá trình điều tra xác định: 04 Chai tinh dầu thuốc lá điện tử là tài sản của anh Phạm Thế H4. Anh H4 và Phạm Thế H2 không biết chất lỏng không màu đựng trong 04 lọ nhựa màu trắng là chất ma túy loại ADB-BUTINACA và chất ADB-4en-PINACA. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý đối với anh Phạm Thế H4 và Phạm Thế H2 và tách ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh làm rõ, đồng thời có công văn đề nghị Viện Khoa học hình sự và Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng khi có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy ADB-BUTINACA thì xác định nồng độ, khối lượng đối với chất ma túy ADB-BUTINACA trong mẫu vật gửi giám định, xử lý theo quy định pháp luật.
Đối với người bán các lọ tinh dầu thuốc lá điện tử cho Phạm Thế H4 trên mạng xã hội Facebook. Hiện Cơ quan điều tra chưa xác định nhân thân, lai lịch, chưa làm việc được nên tách ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Kim L4 không biết việc Nguyễn Hoàng L và Nguyễn Lữ Anh T sử dụng chiếc xe gắn máy biển kiểm soát 47AB-195.24 vào việc phạm tội; Anh Nguyễn Ngọc H5 không biết Nguyễn Hoàng L và Nguyễn Lữ
Anh T bàn bạc đi cướp các chai tinh dầu của Phạm Thế H2. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Nguyễn Kim L4 và Nguyễn Ngọc H5.
Người bào chữa cho bị cáo L4 trình bày quan điểm bào chữa và cho rằng: Việc truy tố và xét xử bị cáo L4 về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử khi lượng hình áp dụng đầy đủ các tính tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, đồng thời áp dụng Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự, nhân thân của bị cáo để xem xét quyết định mức hình phạt dưới mức mà Viện kiểm sát đã đề nghị và không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Người bào chữa cho bị cáo T, bị cáo Đ trình bày quan điểm bào chữa và cho rằng: Việc truy tố và xét xử bị cáo T, Đ về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử khi lượng hình áp dụng đầy đủ các tính tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, đồng thời áp dụng Điều 91, khoản 1 Điều 101 của bộ luật hình sự, nhân thân của bị cáo để xem xét quyết định mức hình phạt dưới mức mà Viện kiểm sát đã đề nghị và không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Đ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại và cho rằng: Việc truy tố và xét xử các bị cáo về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo áp dụng mức hình phạt tương xứng, về trách nhiệm dân sự không có yêu cầu gì.
Các bị cáo đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời bào chữa của người bào chữa và không tranh luận, bào chữa, đối đáp gì với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
Tại phần lời nói sau cùng các bị cáo tỏ thái độ ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo được hưởng các chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật nhà nước, sớm có điều kiện sữa chữa lỗi lầm, làm công dân tốt cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về
hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Ngày 26/9/2023 Hội đồng xét xử đã Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung về việc định giá 04 lọ tinh dầu thuốc lá điện tử, giám định xác định nồng độ, khối lượng ma túy ADB-BUTINACA trong 04 lọ tinh dầu thuốc lá điện tử, nhưng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Vì vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Xét hành vi, ý thức của các bị cáo đã bàn bạc thống nhất dùng vũ lực đánh anh Phạm Thế H2 (14 tuổi 04 tháng 08 ngày) để chiếm đoạt 04 chai tinh dầu thuốc lá điện tử, giá trị 1.000.000 đồng là phạm tội “Cướp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 268 của Bộ luật hình sự.
Điều 168 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công làm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết có thai, người già yếu hoặc không có khả năng tự vệ.”
[3]. Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng đã không những xâm phạm đến sức khỏe, quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây nên những ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được rằng quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật quan tâm bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm, chiếm đoạt trái pháp luật đều bị trừng trị nghiêm khắc.
Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe, quyền sở hữu tài sản của người khác nên các bị cáo đã bàn bạc thống nhất đặt mua 04 chai tinh dầu thuốc lá điện tử với số tiền mua là 1.000.000 đồng, rồi dùng vũ lực đánh Phạm Thế H2 (14 tuổi 04 tháng 08 ngày) để chiếm đoạt 04 chai tinh dầu thuốc lá điện tử, giá trị 1.000.000 đồng. Cho nên đối với các bị cáo cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định. Có như vậy, mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4]. Trong vụ án này các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm, trong đó bị cáo L4 người khởi xướng, bị cáo Đ giúp sức về mặt tinh thần, số lượng người khi rủ bị cáo T giúp sức cùng bị cáo L4 thực hiện hành vi phạm tội. Mặt khác bị cáo L4, Đ phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Xúi dục người dưới 18 tuổi
phạm tội” theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, mức hình phạt của bị cáo L4, cao hơn bị cáo T, bị cáo Đ là phù hợp.
[5]. Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải, đã tác động gia đình bồi thường thiện hại cho bị hại, được bị hại, người đại diện bị hại làm đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị hại. Mặt khác, các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, bị cáo L4 là người dân tộc thiểu số nên khả năng nhận thức pháp luật của các bị cáo có phần hạnh chế, bị cáo L4 có giấy khen vì có nhiều đóng góp trong hoạt động phòng chống dịch bệnh Co Vid 19. Đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật hình sự nên cần xem xét trong quá trình lượng hình để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra vụ việc, gia đình của bị cáo L4 và bị cáo T đã tự nguyện bồi thường cho Phạm Thế H2 tổng số tiền 5.000.000 đồng, gia đình bị cáo Đ đã tự nguyện bồi thường cho Phạm Thế H2 số tiền 2.000.000 đồng. bị hại, người đại diện của bị hại tự nguyện làm đơn bãi nại, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo và không yêu cầu gì thêm. Xét thấy đây là sự tự nguyện thoả thuận, không trái pháp luật nên chấp nhận
[7]. Về xử lý vật chứng: Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại 01 xe gắn máy biển kiểm soát 47AB-195.24 cho anh Nguyễn Kim L4 là chủ sở hữu hợp pháp nhận sử dụng là phù hợp.
Quá trình điều tra xác định 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S, màu đen, 128GB, của bị cáo Nguyễn Hoàng L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 7 plus, màu đen, của bị cáo Nguyễn Lữ Anh T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme X7 Pro, màu tím, 128GB, của bị cáo Trịnh Văn Đ, là các công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
(Đặc điểm, khối lượng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án thành phố Buôn Ma Thuột ngày 08/9/2023).
Đối với hành vi đánh gây thương tích 3%, làm hư hỏng các tài sản của Phạm Thế H2 của các bị cáo Nguyễn Hoàng L và Nguyễn Lữ Anh T. Quá trình điều tra Phạm Thế H2 không yêu cầu Cơ quan điều tra xử lý. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với 04 chai tinh dầu thuốc là điện tử. Ngày 05/7/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định trưng cầu giám định. Tại Kết luận giám định số 1406 ngày 10/7/2023 của Phân viện khoa học hình sự thành phố Đà Nẵng, kết luận: Chất lỏng không màu đựng trong 04 lọ nhựa màu trắng mà Cơ quan điều tra gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy loại ADB-BUTINACA và chất ADB-4en-PINACA (ADB-4en-PINACA có tác dụng trương tự hoạt chất Delta-9-tetrahydrocanabinol có trong Cần sa, hiện nay chất ADB-4en-PINACA chưa nằm trong Danh mục các chất ma tuý và tiền chất do Chính phủ quy định). Tuy nhiên, hiện tại V và Phân viện Khoa học hình sự thành phố Đà Nẵng không có mẫu chuẩn
định lượng chất ma túy ADB-BUTINACA nên không thể xác định được nồng độ cũng như khối lượng chất ma túy ADB-BUTINACA trong mẫu vật gửi giám định.
Quá trình điều tra xác định: 04 Chai tinh dầu thuốc lá điện tử là tài sản của anh Phạm Thế H4. Anh Phạm Thế H4 và Phạm Thế H2 không biết chất lỏng không màu đựng trong 04 lọ nhựa màu trắng là chất ma túy loại ADB-BUTINACA và chất ADB-4en-PINACA. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không đề cập xử lý đối với anh Phạm Thế H4 và Phạm Thế H2 và tách vật chứng là 04 Chai tinh dầu thuốc lá điện tử ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh làm rõ, đồng thời có công văn đề nghị Viện Khoa học hình sự và Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng khi có mẫu chuẩn định lượng chất ma túy ADB-BUTINACA thì xác định nồng độ, khối lượng đối với chất ma túy ADB-BUTINACA trong mẫu vật gửi giám định, xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.
Đối với người bán các lọ tinh dầu thuốc lá điện tử cho Phạm Thế H4 trên mạng xã hội Facebook. Hiện Cơ quan điều tra chưa xác định nhân thân, lai lịch, chưa làm việc được nên tách ra khỏi vụ án, tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Kim L4 không biết việc Nguyễn Hoàng L và Nguyễn Lữ Anh T sử dụng chiếc xe gắn máy biển kiểm soát 47AB-195.24 vào việc phạm tội; Anh Nguyễn Ngọc H5 không biết Nguyễn Hoàng L và Nguyễn Lữ Anh T bàn bạc đi cướp các chai tinh dầu của Phạm Thế H2. Do vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Nguyễn Kim L4 và Nguyễn Ngọc H5 là phù hợp.
Xét quan điểm của người bào chữa cho các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời áp dụng chính sách pháp luật đối với người chưa thành niên quy định tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
Đối với quan điểm không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52, áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự đối để áp dụng hình phạt dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự không loại trừ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Xét quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ cần chấp nhận.
[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Lữ Anh T và Trịnh Văn Đ phạm tội: “Cướp tài sản”.
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng L 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 08/3/2023.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Văn Đ 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23/5/2023.
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 168; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lữ Anh T án 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 08/3/2023.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589, 590 của Bộ luật Dân sự.
Chấp nhận sự tự nguyện thoả thuận gia đình của bị cáo Nguyễn Hoàng L và bị cáo Nguyễn Lữ Anh T đã tự nguyện bồi thường cho Phạm Thế H2 tổng số tiền 5.000.000 đồng, gia đình bị cáo Trịnh Văn Đ đã tự nguyện bồi thường cho Phạm Thế H2 số tiền 2.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B trả lại 01 xe gắn máy biển kiểm soát 47AB-195.24 cho anh Nguyễn Kim L4 là chủ sở hữu hợp pháp nhận sử dụng.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 11S, màu đen, 128GB, của bị cáo Nguyễn Hoàng L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 7 plus, màu đen, của bị cáo Nguyễn Lữ Anh T và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme X7 Pro, màu tím, 128GB, của bị cáo Trịnh Văn Đ.
(Đặc điểm, khối lượng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án thành phố Buôn Ma Thuột ngày 08/9/2023).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Hoàng L, Nguyễn Lữ Anh T và Trịnh Văn Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Hoàng L, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Các bị cáo Nguyễn Lữ Anh T, Trịnh Văn Đ, người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Lữ Anh T, Trịnh Văn Đ và người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Lữ Anh T, Trịnh Văn Đ có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Lê Đình Thanh |
Bản án số 339/2023/HS-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về cướp tài sản
- Số bản án: 339/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nguyễn hoàng long và lữ anh tú phạm tội cướp tài sản
