Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 339/2024/DS-ST

Ngày: 10 - 6 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tiến Quang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Phước
  2. Ông Huỳnh Hồng Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Phi Yến - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình - Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 10 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2024/TLST - DS ngày 30 tháng 01 năm 2024 về: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 312/2024/QĐXXST - DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ L, sinh năm 1957.
  2. Địa chỉ: A P, Phường G, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1964.
  4. Địa chỉ: A B, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 09/01/2024, bản tự khai, biên bản hòa giải của nguyên đơn - bà Huỳnh Thị Mỹ L trình bày:

Qua quen biết, bà Huỳnh Thị Mỹ L (gọi tắt là bà L) cho bà Phạm Thị H (gọi tắt là bà H) vay tiền làm nhiều lần, cụ thể: tháng 04/2017 bà cho bà H mượn 1.000.000.000đ, sau đó bà H trả cho bà 800.000.000đ, còn nợ lại 200.000.000đ. Đến tháng 08/2017 bà H mượn thêm 1.000.000.000đ, tổng số tiền nợ cũ và mượn mới là 1.200.000.000đ.

Ngày 22/8/2017 bà H có viết giấy xác nhận có mượn của bà số tiền 1.200.000.000đ. Sau đó bà H trả được 1.000.000.000đ, còn thiếu lại 200.000.000đ, nhưng đến nay bà H không chịu trả cho bà.

Nay, bà yêu cầu Tòa án buộc bà H trả ngay một lần cho bà số tiền 200.000.000đ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Theo nội dung tại bản tự khai, biên bản hòa giải của bị đơn - bà Phạm Thị H trình bày:

Bà xác nhận, bà có viết, ký giấy mượn tiền ngày 22/8/2017 và mượn bà L số tiền 1.200.000.000đ. Sau đó bà đã trả hết số nợ này. Hình thức trả là chuyển khoản và trả trực tiếp bằng tiền mặt cho bà L.

Nay bà L yêu cầu bà phải trả 200.000.000đ là không có cơ sở. Bà không đồng ý với yêu cầu của bà L.

Theo nội dung tại bản tự khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Lâm Dũng N trình bày:

“Đây là vụ kiện riêng của vợ ông là bà L với bà H. Ông xin khước từ quyền liên quan trong vụ án, vì toàn bộ số tiền trên thuộc sở hữu của bà L, nên bà L có quyền định đoạt”.

Tại phiên tòa.

Nguyên đơn - bà Huỳnh Thị Mỹ L trình bày:

Tháng 04/2017, bà có cho bà H mượn 1.000.000.000đ, sau đó bà H đã trả 800.000.000đ, còn nợ lại 200.000.000đ.

Đến tháng 08/2017, bà H có mượn thêm 1.000.000.000đ. Sau đó, ngày 22/8/2017 bà H có viết giấy xác nhận có mượn của bà số tiền 1.200.000.000đ theo giấy xác nhận ngày 22/8/2017. Nhưng sau đó bà H trả được 1.000.000.000đ, còn thiếu lại 200.000.000đ.

Nay, bà yêu cầu Tòa án buộc bà H trả cho bà số tiền 200.000.000đ. Trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn - bà Phạm Thị H Trình bày:

Bà xác nhận mượn của bà L số tiền 1.200.000.000đ, theo giấy xác nhận nợ ngày 22/8/2017 mà bà đã viết cho bà L. Nhưng sau đó bà đã trả hết số tiền 1.200.000.000đ cho bà L. Cách thức trả như sau: thỉnh thoảng bà có hẹn bà L đi uống cà phê và trả trực tiếp cho bà L tại quán. Những lần trả tiền thì bà đã không yêu cầu bà L phải ký nhận.

Tại phiên tòa hôm nay, bà thấy việc bà nhận tiền của bà L thì có chứng cứ, nhưng bà đã chủ quan không cho bà L ký nhận khi bà trả tiền cho bà L. Do đó, bà đồng ý trả tiền cho bà L 200.000.000đ, nhưng bà sẽ trả mỗi tháng 5.000.000đ, đến khi trả hết nợ.

Nguyên đơn - bà Huỳnh Thị Mỹ L trình bày:

Bà không đồng ý với cách trả tiền của bà H. Bà yêu cầu Tòa án buộc bà H phải trả ngay một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng.

  1. Về thẩm quyền giải quyết.
  2. Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Mỹ L khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bị đơn là bà Phạm Thị H. Theo bản tự khai; các biên bản hòa giải, bà H xác định bà cư trú tại địa chỉ: số A B, Phường F, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

  3. Về quan hệ tranh chấp.
  4. Theo nội dung Giấy xác nhận mượn tiền ngày 22/8/2017 giữa bà L và bà H thể hiện: bà L có cho bà H vay tiền và hai bên có thỏa thuận lãi xuất hàng tháng. Xét thấy, các bên đã thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ trong việc vay và trả tiền. Do đó, Tòa án xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng vay tài sản dược quy định tại Điều 463 Bộ luật dân sự.

  5. Xác định đương sự trong vụ án.
  6. Theo đơn khởi kiện ngày 09/01/2024 của bà Huỳnh Thị Mỹ L nộp cho Tòa án cùng tài liệu kèm theo là Giấy công nhận kết hôn số 38/1982 do Ủy ban nhân dân quận T cấp ngày 29/6/1982. Nội dung Giấy công nhận ông Lâm Dũng N là chồng của bà Huỳnh Thị Mỹ L. Do đó, Tòa án xác định ông Lâm Dũng N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này. Tuy nhiên, theo bản tự khai ngày 12/4/2024 ông Lâm Dũng N trình bày: “Đây là vụ kiện riêng của vợ ông là bà L với bà H. Ông xin khước từ quyền liên quan trong vụ án, vì toàn bộ số tiền trên thuộc sở hữu của bà L, nên bà L có quyền định đoạt”.

    Do đó, Tòa án xác định ông Lâm Dũng N không còn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này.

Về nội dung.

  1. Xét yêu cầu khởi kiện của bà L về việc yêu cầu bà H phải thanh toán số tiền nợ 200.000.000đ, Hội đồng xét xử xét thấy:
  2. Căn cứ vào nội dung Giấy xác nhận mượn tiền ngày 22/8/2017 giữa bà L và bà H; lời trình bày của bà L và bà H tại phiên hòa giải ngày 16/4/2024 thể hiện bà L và bà H có thỏa thuận về việc vay tiền và trả lãi với nội dung: "H có mượn của chị L số tiền là một tỷ hai trăm triệu đồng chẵn lãi xuất 3% tháng".

    Theo lời trình bày của bà L, thì sau khi bà H ký giấy xác nhận mượn tiền ngày 22/8/2017, nhưng đến nay bà H mới trả được 1.000.000.000đ, số tiền còn lại là 200.000.000đ.

    Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà H xác nhận có vay bà L 1.200.000.000đ theo Giấy xác nhận mượn tiền ngày 22/8/2017, nhưng sau đó bà đã trả hết số tiền này và không còn nợ tiền bà L. Nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà H không đưa được tài liệu, chứng cứ nào thể hiện việc đã trả hết tiền cho bà L.

Tại phiên tòa bà H nhận thấy việc bà trả tiền cho bà L, nhưng đã không có chứng cứ thể hiện việc trả tiền. Do đó, bà đồng ý trả bà L mỗi tháng 5.000.000đ đến khi trả hết số nợ.

Từ những căn cứ và lời trình bày trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà L là có cơ sở và không trái quy định pháp luật, nên chấp nhận.

  1. Về thời hạn thanh toán.
  2. Tại phiên tòa, bà L yêu cầu bà H phải thanh toán một lần số tiền 200.000.000đ cho bà ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy:

    Theo lời trình bày của bà H xác định vay tiền của bà L, sau đó bà L đã yêu cầu trả nhưng bà H không thực hiện đã làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà L. Do đó, việc bà L yêu cầu bà H phải trả ngay số tiền trên khi bản án có hiệu lực là có cơ sở và không trái quy định của pháp luật, nên chấp nhận.

  3. Về án phí:
  4. Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 10.000.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 357, 463, 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí; Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn - bà Huỳnh Thị Mỹ L.
  2. Buộc bà Phạm Thị H trả cho bà Huỳnh Thị Mỹ L số tiền 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng), theo Giấy xác nhận mượn tiền ngày 22/8/2017 của Phạm Thị H.

    Thời hạn trả:

    Trả ngay một lần toàn bộ số tiền trên khi bản án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Bà Phạm Thị H phải chịu 10.000.000đ (mười triệu đồng).

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Quyền kháng cáo.
  4. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND quận Tân Bình, TP. HCM;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình, TP. HCM;
  • - Lưu: Hồ sơ, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Trần Tiến Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 339/2024/DS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 339/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HĐ vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger