|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 339/2024/DS-ST Ngày: 13/12/2024 V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Phạm Tú Nhi;
- 2. Ông Nguyễn Đức Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 662/2024/TLST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về hợp tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 492/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 401/2024/QĐST-DS ngày 02/12/2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần P (OCB); địa chỉ: Số D (tầng trệt, tầng lửng, tầng 1 và 2 của Tòa nhà) và số DL, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Dương Đức L, sinh năm 1992; địa chỉ: Tầng B, A T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, đại diện theo ủy quyền. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Minh T, sinh năm 1982; bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1983; cùng địa chỉ: Số H đường L, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Ông T vắng mặt, bà Q có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 18/9/2024, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn trình bày:
Ngày 27/09/2018 và ngày 22/11/2018, giữa Ngân hàng TMCP P (Ngân hàng O) với ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Q (ông T, bà Q) ký Hợp đồng tín dụng số 0105/2018/HĐTD-CN và số 0105.01/SĐBS-HĐTD để cho ông T, bà Q vay số tiền 5.500.000.000 đồng, mục đích vay: thanh toán tiền mua bất động sản; thời hạn vay 240 tháng; Lãi suất vay: 8,49%/năm. Ngày 27/09/2018 Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay theo Khế ước nhận nợ số 0105/2018/KUNN-CN cho ông T, bà Q.
Ngày 21/10/2020, hai bên ký Hợp đồng tín dụng số 0092/2020/HĐTD-CN, theo đó Ngân hàng O cho ông T, bà Q vay số tiền 3.000.000.000 đồng; mục đích vay mua sắm trang thiết bị gia đình; thời hạn vay: 84 tháng; lãi suất vay: 11,5%/năm. Ngày 21/10/2020, Ngân hàng giải ngân số tiền vay 3.000.000.000đồng theo Khế ước nhận nợ số 0092/2020/KUNN- CN cho ông T, bà Q.
Ngày 08/04/2022, Ngân hàng với ông T, bà Q ký Hợp đồng tín dụng số 0027/2022/HĐTD-CN, để cho ông T, bà Q vay số tiền 900.000.000 đồng; mục đích vay: mua sắm trang thiết bị gia đình; thời hạn vay 60 tháng; lãi suất vay: 9%/năm. Ngày 09/04/2022, Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay 900.000.000₫ theo khế ước nhận nợ số 0027/2022/KUNN-CN cho ông T, bà Q.
Ngày 14/12/2022, hai bên tiếp tục ký Hợp đồng tín dụng số 0073/2022/HĐTD-CN để vay và cho vay số tiền 1.200.000.000đồng; mục đích vay mua sắm trang thiết bị gia đình; thời hạn vay 60 tháng; lãi suất vay 17%/năm. Ngày 14/12/2022, Ngân hàng giải ngân số tiền 1.200.000.000đồng theo khế ước nhận nợ số 0073/2022/KUNN-OCB-CN cho ông T, bà Q;
Ngày 28/12/2022, tiếp tục ký Hợp đồng tín dụng số 0080/2022/HĐTD-CN để cho ông T, bà Q vay số tiền 460.000.000đồng; mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn vay: 120 tháng; lãi suất vay: 17%/năm; Ngày 30/12/2022, Ngân hàng giải ngân số tiền 460.000.000đồng theo Khế ước nhận nợ số 0080/2022/KUNN-OCB-CN.
Ngày 30/6/2023, hai bên ký Hợp đồng tín dụng số 0069/2023/HĐTD-CN để cho ông T, bà Q vay số tiền 1.900.000.000đồng; mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn vay: 120 tháng; lãi suất vay: 11.8%/năm. Ngày 30/6/2023, Ngân hàng giải ngân cho ông T, bà Q vay số tiền 1.900.000.000đồng theo Khế ước nhận nợ số 0069/2023/KUNN-OCB-CN.
Ngày 28/12/2023, hai bên tiếp tục ký Hợp đồng tín dụng số 0169/2023/HĐTD-CN để vay số tiền 450.000.000đồng; mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn vay: 60 tháng; lãi suất vay: 9.7%/năm; Ngày 28/12/2023, Ngân hàng đã giải ngân số tiền 450.000.000đồng cho ông T, bà Q theo Khế ước nhận nợ số 01.0169/2023/KUNN-OCB-CN.
Ngày 28/02/2024, Ngân hàng với ông T, bà Q tiếp tục ký Hợp đồng tín dụng số 0025/2024/HĐTD-CN để vay số tiền 1.200.000.000đồng; mục đích vay: tiêu dùng; thời hạn vay: 120 tháng; lãi suất vay: 8.9%/năm; Ngày 28/02/2024, Ngân hàng giải ngân số tiền 1.200.000.000đồng theo Khế ước nhận nợ số 0025/2024/KUNN-OCB-CN.
+ Lãi suất quá hạn của tất cả các hợp đồng: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn.
Tổng cộng số tiền Ngân hàng đã giải ngân cho ông T, bà Q vay là 14.610.000.000đ (mười bốn tỷ sáu trăm mười triệu đồng).
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ, ông T, bà Q đã thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số: 2001, tờ bản đồ số: 16 tại địa chỉ: Khu phố Đ, phường T, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 139324, số vào sổ cấp GCN: CS 24979 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 16/11/2018. Tài sản bảo đảm đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 0081/2018/BĐ ngày 22/11/2018, 0081.01/2020/PDA/PLHĐTC ngày 21/10/2020, 0081.02/2020/PDA/PLHĐTC ngày 08/04/2022, 0081.03/2020/PDA/PLHĐTC ngày 14/12/2022 tại Văn phòng C, đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông T, bà Q đã thanh toán được số tiền tính tới ngày 13/12/2024 là: 9,300,713,399 đồng, trong đó nợ gốc: 4,322,040,000 đồng, nợ lãi: 4,978,673,399 đồng. Sau đó ông T, bà Q không tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng mặc dù Ngân hàng đã nhắc nhở nhiều lần.
Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T, bà Q thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các chi phí khác phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên, tạm tính đến ngày 13/12/2024 là 10,852,759,225 đồng (Bằng chữ: Mười tỷ tám trăm năm mươi hai triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn hai trăm hai mươi lăm đồng) bao gồm: Nợ gốc 10,287,960,000 đồng đồng, nợ lãi 564,799,225 đồng và tiền lãi, phí phát sinh theo các hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 14/12/2024 cho đến khi ông Lê Minh T1 Nguyễn Thị Q1 thành nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng TMCP P.
Trường hợp ông Lê Minh T, bà Nguyễn Thị Q không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần P được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số 0081/2018/BĐ ngày 22/11/2018, 0081.01/2020/PDA/PLHĐTC ngày 21/10/2020, 0081.02/2020/PDA/PLHĐTC ngày 08/04/2022, 0081.03/2020/PDA/PLHĐTC ngày 14/12/2022 được Văn phòng C1, quyển số 09TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/11/2018 để thu hồi khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần P.
- Bị đơn ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Q đã được tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa vào các ngày 02 và 13 tháng 12 năm 2024 nhưng ông T vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì, bà Q có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và trong suốt quá trình tiến hành tố tụng bà Q cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Tại đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 09/12/2024, bà Q đề nghị Toà án giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định pháp luật.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, bị đơn ông T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, bị đơn bà Q có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bị đơn ông Lê Minh T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa vào các ngày 02 và 13/12/2024 nhưng vắng mặt không có lý do; bà Nguyễn Thị Q có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt ông T và bà Q.
[2] Về nội dung:
Vào các ngày 27/09/2018 và 22/11/2018, 21/10/2020, 08/04/2022, 14/12/2022, 28/12/2022, 30/6/2023, 28/12/2023, 28/02/2024 giữa Ngân hàng TMCP P (Ngân hàng O) với ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Q (ông T, bà Q) đã ký các Hợp đồng tín dụng để cho vay số tiền lần lượt là 5.500.000.000đồng, 3.000.000.000đồng, 900.000.000đồng, 1.200.000.000đồng, 460.000.000đồng, 1.900.000.000đồng, 450.000.000đồng, 1.200.000.000đồng; tổng cộng là 14.610.000.000đồng; mục đích vay vốn là thanh toán tiền mua bất động sản, mua sắm thiết bị gia đình; thời gian và lãi suất vay được quy định trên từng hợp đồng cụ thể. Xét, việc ký kết các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản thể hiện sự tự nguyện của các đương sự trong giao kết hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng TMCP P đã giải ngân cho ông T, bà Q vay tổng cộng số tiền 14.610.000.000đ (mười bốn tỷ, sáu trăm, mười triệu đồng) theo các Khế ước nhận nợ đã ký kết giữa ông T, bà Q với Ngân hàng, tuy nhiên, ông T, bà Q mới thanh toán được số tiền tổng cộng là 9,300,713,399đ (chín tỷ, ba trăm triệu, bảy trăm mười ba nghìn, ba trăm chín mươi chín đồng), trong đó nợ gốc: 4,322,040,000₫ (bốn tỷ, ba trăm hai mươi hai triệu, không trăm bốn mươi nghìn đồng), nợ lãi: 4,978,673,399đ (bốn tỷ, chín trăm bảy mươi tám triệu, sáu trăm bảy mươi ba nghìn, ba trăm chín mươi chín đồng). Từ ngày 12/7/2024, ông T, bà Q không tiếp tục thanh toán tiền cho Ngân hàng theo như thoả thuận trong hợp đồng mặc dù Ngân hàng đã thông báo, nhắc nhở nhiều lần. Như vậy, ông T, bà Q đã vi phạm nghĩa vụ đã thoả thuận trong các Hợp đồng tín dụng. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông T, bà Q phải thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 13/12/2024 là 10,852,759,225 đồng (Bằng chữ: Mười tỷ tám trăm năm mươi hai triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn hai trăm hai mươi lăm đồng) bao gồm: Nợ gốc 10,287,960,000 đồng đồng, nợ lãi 564,799,225 đồng là có cơ sở chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của Ngân hàng: Tại điểm a khoản 1 Điều 4 của Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 0081/2018/BĐ ký ngày 22/11/2018 giữa Ngân hàng TMCP P với ông T, bà Q có thỏa thuận về các trường hợp xử lý tài sản thế chấp, cụ thể “a) Khi đến hạn trả nợ (kể cả các trường hợp phải trả nợ trước hạn) theo Hợp đồng tín dụng mà Bên thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ”. Theo sự thỏa thuận này thì bị đơn ông T, bà Q đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay theo các Hợp đồng tín dụng, mặc dù Ngân hàng đã nhắc nhở nhiều lần nhưng ông T, bà Q vẫn không thanh toán. Ngày 14/8/2024, Ngân hàng TMCP P có văn bản số 197/2024/TB-OCB “Thông báo về việc chuyển nợ quá hạn và thu hồi nợ trước hạn” nhưng đến nay ông T, bà Q vẫn không thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 0081/2018/BĐ ký ngày 22/11/2018 giữa Ngân hàng TMCP P với ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Q trong trường hợp ông Q, bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP P.
Ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Q phải tiếp tục chịu lãi, phí phát sinh từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án xét xử cho đến khi thanh toán xong tất cả các khoản nợ theo thỏa thuận giữa hai bên.
[5] Từ những phân tích trên nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn không phải chịu.
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147 và các Điều 227, 228, 235, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP P với ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Q.
- - Buộc ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Q thanh toán số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP P theo các Hợp đồng tín dụng số 0105/2018/HĐTD-CN và số 0105.01/SĐBS-HĐTD ký ngày 27/09/2018 và 22/11/2018; Hợp đồng tín dụng số 0092/2020/HĐTD-CN ký ngày 21/10/2020; Hợp đồng tín dụng số 0027/2022/HĐTD-CN ký ngày 08/04/2022; Hợp đồng tín dụng số 0073/2022/HĐTD-CN ký ngày 14/12/2022; Hợp đồng tín dụng số 0080/2022/HĐTD-CN ký ngày 28/12/2022; Hợp đồng tín dụng số 0069/2023/HĐTD-CN ký ngày 30/06/2023; Hợp đồng tín dụng số 0169/2023/HĐTD-CN ký ngày 28/12/2023 và Hợp đồng tín dụng số 0025/2024/HĐTD-CN ký ngày 28/02/2024 là 10,852,759,225 đồng (Bằng chữ: Mười tỷ tám trăm năm mươi hai triệu bảy trăm năm mươi chín nghìn hai trăm hai mươi lăm đồng) bao gồm: Nợ gốc 10,287,960,000đ (mười tỷ, hai trăm tám mươi bày triệu, chín trăm sáu mươi nghìn đồng), tiền lãi 564,799,225 đ (năm trăm sáu mươi bốn triệu, bảy trăm chín mươi chín nghìn, hai trăm hai mươi lăm đồng).
- - Tiền lãi đối với các Hợp đồng tín dụng ký giữa Ngân hàng TMCP P với ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Q được tiếp tục tính kể từ ngày 14/12/2024 cho đến khi ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Q trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng.
- Trường hợp ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Q không thanh toán khoản nợ trên thì Ngân hàng TMCP P có quyền yêu cầu phát mãi tài sản mà ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Q đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 0081/2018/BĐ ngày 22/11/2018, 0081.01/2020/PDA/PLHĐTC ngày 21/10/2020, 0081.02/2020/PDA/PLHĐTC ngày 08/04/2022, 0081.03/2020/PDA/PLHĐTC ngày 14/12/2022 được Văn phòng C1, quyển số 09TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/11/2018 để thu hồi khoản nợ .
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- 3.1. Ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Q phải chịu 118.852.759đ (một trăm mười tám triệu, tám trăm năm mươi hai nghìn, bảy trăm năm mươi chín đồng). Trả lại cho Ngân Hàng TMCP P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 59.265.772₫ (năm mươi chín triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn, bảy trăm bảy mươi hai đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001551 ngày 25/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- 3.2. Chi phí xem xét thẩm định: ông Lê Minh T và bà Nguyễn Thị Q có trách nhiệm trả lại cho Ngân Hàng TMCP P số tiền chi phí thẩm định tại chỗ là 5.000.000đ (năm triệu đồng).
- Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Kim Hoa |
Bản án số 339/2024/DS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 339/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NH TMCP A tranh chấp hợp đồng tín dụng với ông Lê Minh Th và bà Nguyễn Thị Q
