Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 338/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 05 - 2024

“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con,

hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Tám

2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thy là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 472/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 04 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 126a/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 10 tháng 05 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ A ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (có đơn yêu cầu vắng mặt);

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Quách Thanh P - Văn phòng phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư A; địa chỉ: khóm T, thị trấn P, huyện P, tỉnh An Giang;

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ A ấp H, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Thị L, sinh năm 1956; địa chỉ: số D tổ I ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết, nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:

Ông Trần Văn T với bà Nguyễn Thị Thúy K do mai mối và đi đến hôn nhân vào năm 2010, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết tại UBND xã P theo qui định. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, bất đồng về kinh tế trong gia đình, nên thường xuyên cãi nhau, vợ chồng đã không còn sống chung từ cuối năm 2020 cho đến nay, gia đình hai bên đã hàn gắn nhưng không có kết quả, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, ông T yêu cầu được ly hôn với bà K.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Anh K1, sinh ngày 10/4/2011, hiện con chung đang sống với ông T, ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, bà K không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy K vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: bà Võ Thị L có yêu cầu độc lập, buộc ông Trần Văn T có nghĩa vụ trả tiền vay là 180.000.000 đồng.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn vẫn giữ quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và và xác định không còn tài liệu chứng cứ nào khác để cung cấp thêm.

Nguyên đơn có đơn xin vắng.

Bị đơn vắng mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Quách Thanh P vắng mặt có gửi văn bản quan điểm bảo vệ cho nguyên đơn: Hôn nhân giữa ông T và bà K là tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Tuy nhiên, quá trình sống chung ông, bà có nhiều mâu thuẫn, vợ chồng đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay, không còn liên lạc, quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, cho ông T được ly hôn với bà K; về con chung tên Trần Anh K1, sinh ngày 10/4/2011, hiện con chung đang sống với ông T, ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, bà K không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: ông T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định pháp luật.

- Đối với nguyên đơn: Ông Trần Văn T từ khi thụ lý vụ án, đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Đối với bị đơn: bà Nguyễn Thị Thúy K từ khi thụ lý vụ án đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là phù hợp Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, thì coi như từ bỏ yêu cầu độc lập. Do đó, đề nghị HĐXX đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Võ Thị L theo quy định điểm d khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Trần Văn T đối với bà Nguyễn Thị Thúy K; về con chung: Giao cho ông T được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Trần Anh K1, sinh ngày 10/4/2011, bà K không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp: Ông Trần Thanh T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn, nuôi con, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, buộc nguyên đơn có trách nhiệm trả tiền nợ vay nên quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: bà Nguyễn Thị Thúy K với tư cách là bị đơn trong vụ án có nơi cư trú tại địa bàn huyện P, tỉnh An Giang nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự là phù hợp.

Bị đơn Nguyễn Thị Thúy K, đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo thụ lý vụ án nhưng vẫn không gửi văn bản nêu ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án đã triệu tập bị đơn đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn

vắng mặt, không rõ lí do. Xét thấy, sự vắng mặt của bà K không làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà K.

Võ Thị L là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, đã được Toà án triệu tập đến tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đến lần thứ hai và triệu tập đến tham dự phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Bà L đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do thì coi như từ bỏ yêu cầu độc lập. Do đó, HĐXX đình chỉ yêu cầu độc lập của bà Võ Thị L đối với ông Trần Văn T theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Võ Thị L có quyền khởi kiện lại vụ án đối với yêu cầu độc lập theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa ông T với bà K do mai mối và đi đến hôn nhân vào năm 2010, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân gia đình thì đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là bất đồng về quan điểm, không tôn trọng lẫn nhau, vợ chồng thường xuyên cãi vã nên giữa ông T với bà K không còn sống chung từ năm 2020 cho đến nay.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa ông T với bà K mâu thuẫn là có thật, hai bên đã không còn liên hệ với nhau trong thời gian dài và đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt.

Vì vậy, ông T có yêu cầu ly hôn bà K là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên HĐXX chấp nhận.

Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên Trần Anh K1, sinh ngày 10/4/2011, hiện con chung đang sống với ông T, ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, nguyện vọng con chung muốn sống với ông T, trong quá trình tố tụng bà K không có ý kiến phản hồi, nên Hội đồng xét xử giao con chung cho ông T được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Do ông T không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng không đặt ra xem xét giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

[3] Qua phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, ý kiến người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật về quan điểm giải quyết vụ án nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của ông Trần Văn T được chấp nhận nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 28, 35, 147, 273; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông Trần Văn T, ông Trần Văn T được ly hôn với bà Nguyễn Thị Thúy K.

2. Về con chung: Có 01 con chung tên Trần Anh K1, sinh ngày 10/4/2011, giao con chung tên Trần Anh K1 cho ông T được tiếp tục nuôi dưỡng, bà K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Không bên nào được ngăn cản quyền gặp gỡ và chăm sóc con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét giải quyết.

4. Đình chỉ yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Võ Thị L đối với ông Trần Thanh T1. Bà Võ Thị L có quyền khởi kiện lại vụ án đối với yêu cầu độc lập theo quy định của pháp luật.

5. Về án phí: Ông Trần Thanh T1 phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ từ số tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0006339, ngày 13/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Võ Thị L là người cao tuổi có đơn xin miễn tạm ứng án phí, lệ phí nên bà Võ Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt, niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - UBND xã nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: HSVA.

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 338/2024/HNGĐ-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con, hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 338/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con, hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger