Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 338/2024/HNGĐ-ST
Ngày 13-12-2024
V/v ly hôn

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Xuân Quyết;

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Khánh Sơn - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 312/2024/TLST-HNGĐ, ngày 13 tháng 11 năm 2024, về việc tranh chấp về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 321/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H, sinh năm 2000; ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương; hiện tạm trú: Thôn A, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh HWANG SUNGYEOL, sinh năm 1983; hiện cư trú: 56, B-ri, Danseong-myeon, Danyang-gun, C-do, Hàn Quốc; vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/9/2024; các bản tự khai đề ngày 13/11/2024 và ngày 03/12/2024, nguyên đơn (chị Đinh Thị H) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh HWANG SUNGYEOL kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND huyện K, tỉnh Hải Dương vào ngày 14/01/2019. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì anh HWANG SUNGYEOL về Hàn Quốc, còn chị vẫn sinh sống ở Việt Nam. Vì nhiều vấn đề nên anh H1 SUNGYEOL không bảo lãnh cho chị sang Hàn Quốc đoàn tụ được. Nay xét thấy khả năng đoàn tụ không có và tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh H1 SUNGYEOL.

Về con chung và tài sản chung: Vợ chồng không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại đơn ly hôn, uỷ quyền và đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 29/5/2024 (đã được Đại sứ quán nước C1 tại Hàn Quốc chứng nhận), anh HWANG SUNGYEOL trình bày: Thống nhất với chị H về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, nguyên nhân vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và anh cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Đinh Thị H.

Về con chung và tài sản chung: Vợ chồng không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên toà, chị Đinh Thị H và anh HWANG SUNGYEOL vắng mặt nhưng đều đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do vắng mặt của các đương sự; công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

  1. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn. Nguyên đơn là chị Đinh Thị H, sinh năm 2000; ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện K, tỉnh Hải Dương; hiện tạm trú: Thôn A, xã N, huyện T, thành phố Hải Phòng và bị đơn là anh HWANG SUNGYEOL, sinh năm 1983; hiện cư trú: 56, B-ri, Danseong-myeon, Danyang-gun, C-do, Hàn Quốc. Chị H và anh HWANG SUNGYEOL đều có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết vụ án. Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
  2. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn (chị H) và bị đơn (anh HWANG SUNGYEOL) vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh HWANG SUNGYEOL kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương (Giấy chứng nhận kết hôn số 02, vào ngày 14/01/2019). Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh HWANG SUNGYEOL là hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
  2. Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện chị H và anh HWANG SUNGYEOL đều thống nhất trình bày và xác nhận nội dung trong thời gian vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều khác biệt về quan điểm sống nên anh HWANG SUNGYEOL đã về Hàn Quốc sinh sống từ năm 2019 đến nay. Vợ chồng sống ly thân, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ; chị H và anh HWANG SUNGYEOL đều có đơn yêu cầu đề nghị Toà án giải quyết ly hôn để hai bên ổn định cuộc sống.
  3. Xét thấy, chị H và anh HWANG SUNGYEOL đã tự sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau và đều có đơn đề nghị Toà án giải quyết ly hôn. Do đó, có đủ cơ sở để xác định cuộc sống chung giữa chị H và anh H1 SUNGYEOL không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H; xử cho chị H được ly hôn với anh H1 SUNGYEOL.
  4. Về con: Chị H và anh HWANG SUNGYEOL đều xác nhận không có con chung và không yêu cầu Toà án phải giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
  5. Về tài sản: Chị H và anh HWANG SUNGYEOL không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
  6. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 và Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị H, cụ thể:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H được ly hôn với anh H1 SUNGYEOL.
  2. Về án phí: Nguyên đơn (chị Đinh Thị H) phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0000 861, ngày 13/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị H được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Anh HWANG SUNGYEOL được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - UBND h. Kim Thành, tỉnh Hải Dương;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 338/2024/HNGĐ-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn

  • Số bản án: 338/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi keienj
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger