|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 338/2024/HS-ST
Ngày: 07/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Xây
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Mai
Bà Nguyễn Minh Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Hồng Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 307/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 331/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Lê Hồng M, sinh năm 1983; Giới tính : Nam ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú : Tổ B D, quận C, TP Hà Nội ; Nơi ở: Không cố định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 02/12; Con ông Lê Văn H ( Chết) và con bà Nguyễn Thị D Vợ Nguyễn Thị Thúy V ; Con : 01 con sinh năm 2006; Tiền án tiền sự:
- + Ngày 24/4/2000, bị đưa vào cơ sở giáo dục theo Quyết định số 38 ngày 24/4/2000 của Ủy ban nhân dân thành phố H về Đưa vào trường giáo dưỡng.
- + Bản án số 06/2005/HSST ngày 04/02/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Ra trại ngày 11/11/2005 (đã nộp án phí, đã được xóa án tích).
- + Bản án số 79/2006/HSST ngày 28/12/2006, bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999; 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án là 30 tháng tù. Ra trại ngày 11/01/2009 (đã nộp án phí, đã được xóa án tích).
- + Bản án số 304/2009/HSST ngày 21/8/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Ra trại ngày 12/12/2011 (không có thông tin về việc nộp án phí, đã xóa án tích).
- + Bản án số 127/2012/HSST ngày 26/9/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 04 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999. Ra trại ngày 24/02/2016 (đã nộp án phí, đã được xóa án tích).
- + Bản án số 11/2021/HSST ngày 21/01/2021, bị Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Ra trại ngày 12/02/2022 (đã nộp án phí, đã được xóa án tích).
(D1 chỉ bản số 560 lập ngày 01/7/2024 tại Công an quận Đ); Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/6/2024.
Có mặt tại phiên tòa.
2. Phan Minh T, sinh năm 1975; Giới tính : Nam ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: TDP Đ, phường T, quận B, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Con ông Phan Minh L ( chết) và bà Lê Thị S; Vợ : Nguyễn Thị T1 ; Con : 04 con, lớn sinh năm 1996 và nhỏ sinh năm 2014; Tiền án tiền sự: Không
(D1 chỉ bản số 676 lập ngày 13/8/2024 tại Công an quận Đ); Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- 1.Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1998; Trú tại: TDP G thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt).
- 2.Chị Nguyễn Thu H1, sinh năm 1992 ; Trú tại : Thôn Đ, xã N, huyện Đ, TP Hà Nội. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 22/6/2024, Lê Hồng M đến chơi nhà bạn là Trần Thị T3 (Sinh năm: 1978) tại số F ngõ A N, phường N, Đ, Hà Nội. M quan sát thấy tầng 1 của nhà trọ có nhiều xe máy không có người trông giữ nên nảy sinh ý định trộm cắp xe máy. Khoảng 23 giờ cùng ngày, M đi bộ ra khỏi nhà trọ. Đến khoảng 00 giờ ngày 23/6/2024, M đi bộ quay lại nhà trọ, thò tay qua ô cửa dập cầu dao điện để ngắt hệ thống camera và mở khóa cửa. M mở cửa đi vào bên trong dắt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen mang BKS: 98F1-330.69 của chị Nguyễn Thị T2 (Sinh năm 1998, trú tại: TDP G, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang) ra ngoài và đóng cửa lại. Sau đó, M dắt chiếc xe máy vừa lấy trộm được theo ngõ A N ra phố N và nhờ một người đi đường (không xác định được nhân thân) đẩy xe giúp đến bãi xe của Bệnh viện N, phường L, Đ, Hà Nội và gửi xe tại đây. Khoảng 03 giờ cùng ngày, M quay lại nhà trọ, bằng thủ đoạn cũ, M mở cửa và dắt trộm chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i màu trắng BKS: 29S1 998.43 của chị Nguyễn Thu H1 (Sinh năm 1992, trú tại: thôn Đ, xã N, huyện Đ, Hà Nội) ra ngoài, đi theo hướng phố N, Ô, Đê L và gửi xe tại bãi xe của Bệnh viện P, phường N, B, Hà Nội. Sau đó, M đi bộ ra trước số A đường L, phường L, Đ, Hà Nội ngồi nghỉ và gọi điện cho bạn tên H2 (không xác định được nhân thân) đến đón. Khoảng 09 giờ cùng ngày, H2 điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave Honda màu xanh (không xác định được biển kiểm soát) chở M đến Bệnh viện N để M lấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen mang BKS: 98F1 – 330.69 ra khỏi bãi gửi xe. Sau đó, H2 dùng chân đẩy chiếc xe máy trên cho M đến quán nước ở khu vực chân cầu vượt X, phường P, N, Hà Nội. Tại đây, M đã bán chiếc xe máy trên cho Phan Minh T với giá 2.300.000 đồng. T đưa tiền mặt cho M. Sau khi thanh toán xong, H2 chở M về Bệnh viện N rồi bỏ đi. M vào bãi gửi xe lấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i màu trắng mang BKS: 29S1 – 998.43 dắt đến khu vực cầu Y, phường L, Đ, Hà Nội và vào quán sửa xe để thuê phá khóa xe máy với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, M điều khiển chiếc xe máy trên về gửi ở hầm gửi xe tại nơi ở của M ở địa chỉ Chung cư C, Tòa nhà G, phường Y, H, Hà Nội và tháo biển kiểm soát 29S1 – 998.43 mang lên nhà cất giấu.
Ngày 23/6/2024, chị Nguyễn Thị T2 và chị Nguyễn Thu H1 đến Công an phường N để trình báo. Tại Cơ quan công an, Lê Hồng M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Ngày 25/6/2024, Phan Minh T đã đến Cơ quan công an đầu thú và khai nhận khi mua xe của M mang đến thì T biết đó là tài sản trộm cắp mà có vì xe không có chìa khóa, khi mang đến thì M phải đẩy đến và không có giấy đăng ký xe. Ngoài ra, M không nói với T về chủ xe nên T biết M không phải chủ xe và M bán xe với giá rẻ hơn nhiều so với trên thị trường. Sau khi mua được xe với giá 2.300.000 đồng thì T đã nhờ người sửa khóa dạo đánh lại ổ khóa với giá 350.000 đồng, sau đó sử dụng đi lại hàng ngày.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 135/KL-HĐĐGTS ngày 02/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản - UBND quận Đ, kết luận:
- “- 01 xe máy Honda SH màu trắng, không BKS, SK 000615, SM 067507, đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá thời điểm tháng 6/2024 định giá 50.000.000 đồng.
- - 01 xe máy Honda Wave màu đen, BKS 98F1-330.69, SK 135850, SM 253177, đã qua sử dụng, đã thu hồi định giá thời điểm tháng 6/2024 định giá 12.500.000 đồng”.
Đối với người đàn ông đẩy giúp xe cho M từ Nguyễn Lương B đến bãi gửi xe của Bệnh viện N và đối tượng tên H2, tại Cơ quan điều tra, M khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của 02 người này nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ của Lê Hồng M những đồ vật, tài sản gồm: 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i màu trắng; 01 biển kiểm soát 29S1-998.43; 01 áo vải dài tay kẻ ô vuông sáng màu; 01 quần dài vải màu đen; 01 đôi dép tổ ong màu trắng. Thu giữ của Phan Minh T những đồ vật, tài sản gồm: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen mang BKS 98F1-330.69.
Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả tài sản mà Lê Hồng M đã lấy trộm cho người bị hại. Chị Nguyễn Thu H1 đã nhận lại tài sản của chị bị mất trộm là chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i màu trắng, BKS 29S1-998.43. Chị H1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Đồng thời, Cơ quan điều tra đã quyết định trao trả chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS 98F1-330.69 cho người bị hại là chị Nguyễn Thị T2. Chị T2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra.
Bị hại : Chị H1 xác nhận đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì khác. Đồng thời, chị H1 xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Bản Cáo trạng số 304/CT-VKSĐĐ ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố Lê Hồng Minh về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Truy tố Phan Minh T về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có " theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 ; điểm g khoản 1 Điều 52 ; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt Lê Hồng M từ 30 tháng đến 36 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 ; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt Phan Minh T từ 08 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 tháng đến 24 tháng.
- Miễn hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Không có yêu cầu nên không xem xét.
Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo M là 2.300.000 đồng
Vật chứng : Tịch thu tiêu hủy áo, quần, dép thu giữ của bị cáo T vì không còn giá trị sử dụng.
Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, đơn trình báo, lời khai bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:
Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ ngày 23/6/2024, tại tầng 1, số F, ngõ A N, phường N, Đ, Hà Nội, Lê Hồng M đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen mang biển kiểm soát 98F1-330.69 trị giá 12.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị T2 (sinh năm 1998; trú tại T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang) và bán chiếc xe này cho Phan Minh T với giá 2.300.000 đồng. T không hứa hẹn trước với M, T biết chiếc xe này là do M trộm cắp mà có được nhưng vẫn mua lại chiếc xe để dùng vào mục đích cá nhân.
Vụ thứ hai: Khoảng 03 giờ ngày 23/6/2024, tại tầng 1, số F, ngõ A N, phường N, Đ, Hà Nội, Lê Hồng M đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH 125i màu trắng mang biển kiểm soát 29S1-998.43 trị giá 50.000.000 đồng của chị Nguyễn Thu H1 (Sinh năm 1992, trú tại: thôn Đ, xã N, huyện Đ, Hà Nội).
Tổng giá trị tài sản mà M trộm cắp là: 62.500.000 đồng (Sáu mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng). Tài sản đã thu hồi và trả cho bị hại.
Hành vi phạm tội của bị cáo M đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản, hành vi phạm tội của bị cáo T đã cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố bị cáo Minh điểm c theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo T theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội nên cần xử phạt nghiêm.
Bị cáo M có nhân thân xấu, phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự ; Bị cáo đã có thời gian cải tạo, giáo dục song không lấy đó làm bài học, tiếp tục phạm tội. Thể hiện bị cáo khó cải tạo, coi thường pháp luật nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét : Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận tội, ăn năn hối cải ; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Bị cáo T biết rõ tài sản do M phạm tội mà có nhưng vẫn cố ý mua chiếc xe máy, tuy nhiên mục đích mua để sử dụng cho bản thân.
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Sau khi phạm tội, bị cáo tự thú; Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn hối cải ; Nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên cho bị cáo cải tạo ngoài xã hội cũng đủ tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.
Các bị cáo không có điều kiện kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì nên không xem xét.
Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu lời bất chính của bị cáo M 2.300.000 đồng.
Vật chứng : Tịch thu tiêu hủy áo, quần, dép thu giữ của bị cáo T vì không còn giá trị sử dụng.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Hồng M phạm tội "Trộm cắp tài sản" ;
Bị cáo Phan Minh T phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có"
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 ; điểm g khoản 1 Điều 52 ; Điều 38 Bộ luật hình sự ;
Xử phạt: Bị cáo Lê Hồng M 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ 25/6/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 323 điểm i,s khoản 1và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự
Xử phạt: Bị cáo Phan Minh T 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 ( Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, phường T, quận B, TP Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng Điều 106, 135, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vật chứng : Tịch thu tiêu hủy 01 áo vải tay dài, kẻ ô vuông sáng màu ; 01 quần dài vải màu đen ; 01 đôi dép tổ ong màu trắng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 32 ngày 01/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa.
Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Buộc bị cáo M truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.300.000 ( Hai triệu ba trăm ngàn) đồng.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại bị hại có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Nơi nhận:
- - Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội;
- - Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa;
- - Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa;
- - Trại tạm giam Công an Thành phố Hà Nội;
- - Bị cáo; Bị hại;
- - Lưu VP,HS.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Công Xây |
Bản án số 338/2024/HS-ST ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 338/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 ; điểm g khoản 1 Điều 52 ; Điều 38 Bộ luật hình sự; Áp dụng khoản 1 Điều 323 điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự
