Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – T – Hạnh Phúc

Bản án số:338/2024/HSST

Ngày: 04/7/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phú

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim C

Bà Vương Thị Khánh L

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn T - Thư ký TAND Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Như N - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 260/2024/HSST ngày 08 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 293/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024; Thông báo dời lịch ngày 19 tháng 6 năm 2024.

Họ và tên: Lý Văn G. Tên gọi khác: Không Giới tính: N1.

Sinh năm 2001, tại Trà Vinh.

Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.

Nơi đăng ký thường trú: Ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

+ Chỗ ở: Thuê trọ tại nhà số H, tổ A, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không Trình độ học vấn: Lớp 3/12.

Họ tên cha: Lý Văn T1, sinh năm 1973, còn sống.

Họ tên mẹ: Trần Thị P, sinh năm 1980, còn sống.

Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út.

Bị cáo sống chung như vợ chồng (không đăng ký kết hôn) với chị Đỗ Thị Ngọc T2- sinh năm 1999.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/01/2021, G bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai ra Quyết định (Quyết định số 02/QĐ-TA) về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 (mười tám) tháng tại Cơ sơ điều trị nghiện ma túy tỉnh Đồng Nai. Ngày 05/01/2022, G chấp hành xong thời hạn cai nghiện bắt buộc.

Bị bắt quả tang và tạm giữ ngày 10/01/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh số 230/LTG ngày 19/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ

(Bị cáo có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau

a)Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lý Văn G là người sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 16 giờ ngày 10/01/2024, G điều khiển xe mô tô biển số 60F3- 809.02 đi đến khu vực cổng Bệnh viện Đ thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai mua của đối tượng tên H (chưa rõ nhân thân, lai lịch) 02 (Hai) gói ma túy, với giá 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng) để sử dụng. Đến 17 giờ cùng ngày, G cất giấu 02 gói ma túy nêu trên ở trong túi quần bên trái phía trước G đang mặc và điều khiển xe mô tô biển số 60F3- 809.02 chạy đến đoạn đường nội bộ thuộc tổ G, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B phối hợp cùng Công an phường A, thành phố B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Tại Cơ quan điều tra, Lý Văn G khai nhận hành vi phạm tội như trên. (Biên bản bắt người phạm tội quả tang, bút lục số 01; Lời khai bị can, bút lục số: 46-51; Lời khai người người làm chứng, bút lục số: 01, 52).

* Vật chứng, tài sản đồ vật thu giữ của Lý Văn G:

- 02 (hai) gói nilon bên trong chứa chất màu trắng (thu giữ trong túi quần phía trước bên trái G đang mặc

- 01 điện thoại di động hiệu Motorola, số Imei: 359525092526568, là tài sản của chị Đỗ Thị Ngọc T2 (sống chung như vợ chồng với G) cho G mượn sử dụng, không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả cho chị T2.

- 01 xe mô tô biển số 60F3-809.02. Quá trình điều tra, Lý Văn G khai: Xe mô tô biển số 60F3-809.02, kiểu dáng xe Wave, màu sơn: đen và cam là do G mượn của tên T3 (bạn ngoài xã hội với G, không rõ nhân thân lai lịch) để đi công việc, G không nói cho T3 biết mượn xe để sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy sử dụng. Kết quả xác minh xe mô tô biển số 60F3-809.02, có nhãn hiệu Honda, loại Future FI màu sơn đen nâu, số máy: JC90E0102401,số khung: RLHJC7657MY004433 do ông Nguyễn Mạnh T4 (sinh năm 1980, cư trú tại tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là chủ sở hữu. Ông T4 khai, tháng 3/2021, ông T4 mua và đứng tên chủ xe đối với mô tô biển số 60F3-809.02 (số khung, số máy, kiểu dáng nêu trên) và ông T4 đang sử dụng xe mô tô biển số 60F3-809.02 để làm phương tiện đi lại cho đến nay, xe

không bị mất trộm. Do chưa rõ nguồn gốc, chủ sở hữu xe thu giữ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách ra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

*Tại Kết luận giám định số 84/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: “Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3604 gam, loại: Methamphetamine".

Tại Bản cáo trạng số 269/CT-VKSBH ngày 04/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa đã truy tố bị cáo Lý Văn Giàu, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã thể hiện, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1, điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Xử phạt bị cáo Lý Văn G với mức án từ 01(một) năm 06(sáu) tháng đến 02(hai) năm tù.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về việc truy tố của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay là thống nhất, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.

Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Lúc 17 giờ ngày 10/01/2024, tại đoạn đường nội bộ thuộc tổ G, khu phố C, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lý Văn Giàu có hành vi tàng trữ trái phép 0,3604 gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp cùng Công an phường A, thành phố B kiểm tra phát hiện, bắt quả tang.

Tại Bản kết luận giám định số 84/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận: “Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,3604 gam, loại: Methamphetamine".

Bị cáo đồng ý với kết luận định giá và không khiếu nại thắc mắc gì.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Từ những phân tích trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo truy tố bị cáo Lý Văn G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng căn cứ pháp luật.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Không có.

[5] Về quyết định hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách của nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục đối với bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định;

- Đối với 01(một) điện thoại di động hiệu Motorola, số I: 359525092526568, là tài sản của chị Đỗ Thị Ngọc T2 (sống chung như vợ chồng với G) cho G mượn sử dụng, không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã giao trả cho chị T2 là phù hợp.

- Đối với 01(một) xe mô tô biển số 60F3-809.02. Quá trình điều tra, Lý Văn G khai: Xe mô tô biển số 60F3-809.02, kiểu dáng xe Wave, màu sơn: đen và cam là do bị cáo mượn của tên T3 (bạn ngoài xã hội với G, không rõ nhân thân lai lịch) để đi công việc, bị cáo không nói cho T3 biết mượn xe để sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy sử dụng. Kết quả xác minh xe mô tô biển số 60F3-809.02, có nhãn hiệu Honda, loại Future FI màu sơn đen nâu, số máy: JC90E0102401,số khung: RLHJC7657MY004433 do ông Nguyễn Mạnh T4 (sinh năm 1980, cư trú tại tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là chủ sở hữu. Ông T4 khai, tháng 3/2021, ông T4 mua và đứng tên chủ xe đối với môtô biển số 60F3-809.02 (số khung, số máy, kiểu dáng nêu trên) và ông T4 đang sử dụng xe môtô biển số 60F3-809.02 để làm phương tiện đi lại cho đến nay, xe không bị mất trộm. Do chưa rõ nguồn gốc, chủ sở hữu xe thu giữ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tách ra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

[7]Án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng tên H (chưa rõ lai lịch) đã bán ma túy cho G, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra xử lý sau

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm C khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[1] Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Lý Văn G phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lý Văn G 01(một) năm 04(bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2024.

[3]Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định (Gói niêm phong số 84/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của phòng K công an tỉnh Đ).

(Tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).

[4] Án phí HSST:

- Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST (Hai trăm nghìn đồng).

[5]Quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

* Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS TP Biên Hòa;
  • - VKS tỉnh Đ;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Trại giam T5;
  • - Lưu VP – HS.

Nguyễn Thị P1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 338/2024/HSST ngày 04/07/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 338/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lý Văn Giàu phạm tội "Tàng trữ .... ma túy"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger