Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 338/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 26-6-2025

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn
  • - Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Thanh Nhàn và ông Võ Thái Quân
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Linh Thi là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Trương Minh Thiện là Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 88/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 02 năm 2025 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Võ Thị T, sinh năm 1986 nơi cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Số B, ấp L, xã L, huyện C, An Giang (xin vắng mặt)
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1996 nơi cư trú: Số C, tổ H, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 02 năm 2025 và lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T1 trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn H tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh An Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 271 ngày 10/12/2009. Vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do ông H ham chơi, không chí thú làm ăn, không chăm lo cho gia đình, thường xuyên cải vã nên vợ chồng ly thân từ năm 2014 đến nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà xin ly hôn ông H.

Bà và ông H có 01 con chung Nguyễn Long T2, sinh năm 2009 bà đang nuôi dưỡng, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Bà và ông H không có tài sản chung, nợ chung.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không có mặt là vi phạm Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị T1 được ly hôn ông Nguyễn Văn H. Con chung Nguyễn Long T2, sinh năm 2009 giao bà T1 tiếp tục nuôi dưỡng; bà T1 không yêu cầu nên không buộc ông H phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Bà T1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

  • - Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn bị đơn có nơi cư trú xã H, huyện P, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn được tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Bà T1 và ông H tự nguyện đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn số 271 ngày 10/12/2009 là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Bà T1 cho rằng có mâu thuẫn, vợ chồng không còn chung sống từ giữa năm 2014 đến nay. Qua xác minh địa phương cho biết ông H và bà T1 không còn chung sống đã lâu, không biết được mâu thuẫn vợ chồng.

Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau.……”. Bà T1 và ông H có mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng ly thân từ năm 2014 đến nay. Từ đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không còn đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu, cho bà T1 được ly hôn ông H.

[3] Về con chung: có 01 con chung Nguyễn Long T2, sinh năm 2009 đang sống với bà T1. Từ khi vợ chồng không còn chung sống với nhau, bà T1 là người trực tiếp nuôi dưỡng, cháu T2 có nguyện vọng tiếp tục sống với bà T1, do đó Hội đồng xét xử giao con chung cho bà T1 được tiếp tục nuôi dưỡng. Bà T1 không yêu cầu nên không buộc ông H phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: không có nên không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Bà T1 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông H không phải chịu án hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 91, Điều 147, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T1.

  1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T1 được ly hôn ông Nguyễn Văn H.
  2. Về con chung: Nguyễn Long T2, sinh năm 2009 giao cho bà T1 được tiếp tục nuôi dưỡng. Bà T1 không yêu cầu nên không buộc ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà T1 và các thành viên trong gia đình có nghĩa vụ tạo điều kiện ông H đến thăm nom, chăm sóc con chung; không ai được cản trở ông H thực hiện quyền này.

Việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con là không cố định. Một trong các bên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét việc thay đổi nuôi con và cấp dưỡng nuôi con nếu có yêu cầu.

  1. Về tài sản chung; nợ chung: Không có.
  2. Về án phí: Bà T1 phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011834 ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Tân.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thế Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 338/2025/HNGĐ-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 338/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T yêu cầu ly hôn Võ Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger