|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 338/2025/DS-ST Ngày 31-10-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Len
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Văn Công Trọn
Bà Nguyễn Huỳnh Hưỡng
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Nga Muội là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Cà Mau: Bà Trần Hồng Cẩm – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 54/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 7 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 192/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P1
- Địa chỉ: Tòa nhà T, số A T, phường A, thành Phố Hồ Chí Minh.
- Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đỗ Đình B; địa chỉ: Ấp A, xã S, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt)
- - Bị đơn: Bà Lâm Mỹ P; Sinh năm 1981 (vắng mặt)
- Căn cước công dân: [...], ngày cấp 09/8/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về xã hội.
- Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã S, tỉnh Cà Mau;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lâm Thanh S, sinh năm 1986 (vắng mặt)
- Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã S, tỉnh Cà Mau;
- Căn cước công dân: [...], ngày cấp 02/8/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về xã hội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP Q (Ngân hàng) và bà Lâm Mỹ P đã cùng ký kết các Hợp đồng tín dụng số 25/2024/HĐTD-OCB-CN ngày 21/3/2024 vay số tiền 1.590.000.000 đồng và hợp đồng tín dụng số 88/2024/HĐTD-OCB-CN ngày 23/8/2024 vay số tiền 900.000.000 đồng.
Để bảo đảm cho các nghĩa vụ tín dụng của bà P, bà Lâm Mỹ P, bà Lâm Thanh S ký các hợp đồng thế chấp với Ngân hàng cụ thể:
Bà Lâm Thanh S ký hợp đồng thế chấp số 25/2024/BĐ ngày 21/3/2024 tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 286, tờ bản đồ số 5, diện tích 18.059,5 m², tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay ấp T, xã S, tỉnh Cà Mau); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 459702, số vào số cấp GCN: CH 00290 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 28/12/2010.
Bà Lâm Mỹ P ký hợp đồng thế chấp số 57/2024/BĐ ngày 03/3/2024 tài sản thế chấp: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 28, tà bán đồ số 5, diện tích 12.240,5 m², tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay ấp T, xã S, tỉnh Cà Mau); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD 459720, số vào số cấp GCN: CH00289 do UBND huyện T cấp ngày 28/12/2010.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà P đã vi phạm hợp đồng tín dụng không đóng lãi đúng hạn, Ngân hàng yêu cầu bà P phải trả cho Ngân hàng tiền vay tạm tính đến ngày 31/10/2025 số tiền là 2.225.920.354 đồng (Trong đó nợ gốc 2.140.000.000 đồng, nợ lãi 85.920.354 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/11/2025 đến khi tất toán hết khoảng nợ vay theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Trường hợp bà P không thanh toán đầy đủ các khoảng nợ yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.
Bà Lâm Mỹ P trình bày: Bà thừa nhận có ký hợp đồng vay tiền của Ngân hàng và thế chấp tài sản như Ngân hàng trình bày là đúng, bà yêu cầu được gia hạn hợp đồng tín dụng, hiện nay các khoảng vay của bà có khoảng vay đến hạn có khoảng vay chưa đến hạn.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án là không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối bị đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 31/10/2025 là số tiền là 2.225.920.354 đồng (Trong đó nợ gốc 2.140.000.000 đồng, nợ lãi 85.920.354 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/11/2025 đến khi tất toán hết khoảng nợ vay theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết.
Tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp giữa bà Lâm Mỹ P, bà Lâm Thanh S đã ký thế chấp với Ngân hàng.
Án phí, chi phí tố tụng đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, qua kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, phần tranh luận, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về tố tụng: Xét về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 khởi kiện bà Lâm Mỹ P trả tiền vay tín dụng, do đó xác định mối quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vắng mặt đương sự: Ông Đỗ Đình B, bà Lâm Mỹ P, bà Lâm Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự trên là đúng theo quy định.
[2] Nội dung: Theo đại diện ủy quyền nguyên đơn trình bày bà Lâm Mỹ P ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng vay số tiền 1.590.000.000 đồng theo hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 25/2024/HĐTD-OCB ngày 21/3/2024 và hợp đồng tín dụng số 88/2024/HĐTD-OCB ngày 23/8/2024 vay số tiền 900.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng, bổ sung vốn kinh doanh, lãi suất theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết.
Để đảm bảo cho khoản vay của bà P đối với Ngân hàng thì bà P có thỏa thuận ký hợp đồng thế chấp số 57/2024/BĐ ngày 03/3/2024 ngày 21/3/2024 bà Lâm Thanh S có thỏa thuận ký hợp đồng thế chấp số 25/2024/BĐ ngày 21/3/2024 để thế chấp tài sản bảo đảm các khoản vay cụ thể:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 5 diện tích 12.240,5 m² và thửa số 286, tờ bản đồ số 5 diện tích 18.059,5 m², đất tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay ấp T, xã S, tỉnh Cà Mau).
[3] Trong quá trình thực hiện hợp đồng bà P vi phạm hợp đồng tín dụng không đóng lãi đúng hạn. Ngân hàng yêu cầu bà P thanh toán tiền vay theo hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 31/11/2025 là số tiền là 2.225.920.354 đồng (Trong đó nợ gốc 2.140.000.000 đồng, nợ lãi 85.920.354 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/11/2025 đến khi tất toán hết khoảng nợ vay theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Trường hợp bà P không thanh toán đầy đủ các khoảng nợ yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, Hội đồng xét xử nhận định: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ xác định bà P có vay vốn tín dụng của Ngân hàng tổng số tiền vay 2.490.000.000 đồng là thực tế có xãy ra. Do ông bà P vi phạm hợp đồng tín dụng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc P trả khoảng nợ trên là có căn cứ.
[5] Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 57/2024/BĐ ngày 03/3/2024, số 25/2024/BĐ ngày 21/3/2024 với đất thuộc thửa đất số 28, tờ bản đồ số 5, diện tích 12.240,5 m² và 286, tờ bản đồ số 5, diện tích 18.059,5m² đất cùng tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay ấp T, xã S, tỉnh Cà Mau). Hội đồng xét xử thấy rằng việc thế chấp có đăng ký thế chấp đúng theo quy định của pháp luật nên hợp đồng thế chấp có hiệu lực, tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp.
Phát biểu Kiểm sát viên tại phiên tòa có căn cứ được chấp nhận.
[6] Về án phí có giá ngạch, chi phí tố tụng:
Chi phí tố tụng buộc bà P phải chịu 400.000 đồng, Ngân hàng đã tạm ứng trước, buộc bà P phải trả lại cho Ngân hàng số tiền 400.000 đồng.
Án phí có giá ngạch: Ngân hàng không phải chịu án phí sơ thẩm, Ngân hàng được nhận lại tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số tiền 42.672.000 đồng, buộc bà P phải chịu án phí số tiền là 76.518.000 đồng (làm tròn, chưa nộp).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 317, 318, 319, 323, 325, 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 12 Luật Ngân hàng, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 của ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 đối với bà Lâm Mỹ P. Buộc bà Lâm Mỹ P phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 31/10/2025 là số tiền là 2.225.920.354 đồng (Trong đó nợ gốc 2.140.000.000 đồng, nợ lãi 85.920.354 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 01/11/2025 đến khi tất toán hết khoảng nợ vay theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết.
- Tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp số 57/2024/BĐ ngày 03/3/2024, số 25/2024/BĐ ngày 21/3/2024 do bà Lâm Mỹ P, bà Lâm Thanh S ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 để đảm bảo việc thi hành án đối với các khoản vay tín dụng của bà P đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1.
- Trường hợp bà Lâm Mỹ P không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ. Buộc bà Lâm Mỹ P, bà Lâm Thanh S giao phần đất tại thừa số đất số 28, tờ bản đồ số 5, diện tích 12.240,5 m² và thửa số 286, tờ bản đồ số 5, diện tích 18.059,5 m² đất tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay ấp T, xã S, tỉnh Cà Mau) cho Cơ quan thi hành án phát mãi tài sản để Ngân hàng thu hồi nợ.
- Chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng buộc bà Lâm Mỹ P phải chịu 400.000 đồng. Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 đã tạm ứng trước, buộc bà P phải trả lại cho Ngân hàng 400.000 đồng.
- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người bị thi hành án không thi hành xong khoản tiền phải thi hành án (chi phí tố tụng) thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trà.
- Án phí sơ thẩm có giá ngạch: Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 không phải chịu, ngày 16/7/2025 Ngân hàng Thương mại Cổ phần P1 tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số tiền 42.672.000 đồng biên lai thu số 0011363 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Cà Mau được nhận lại.
- Buộc bà Lâm Mỹ P phải chịu án phí sơ thẩm 76.518.000 đồng.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Án xử sơ thẩm, đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo luật định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Len |
Bản án số 338/2025/DS-ST ngày 31/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 338/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP P1 yêu cầu bà Lâm Mỹ P trả tiền vay tín dụng
