|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 338/2025/DS-ST
Ngày: 26/6/2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hoàng Thị Phương Lan
- Bà Lê Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2025/TLST-DS ngày 05 tháng 02 năm 2025 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 248/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 224/2025/QĐST-DS ngày 10 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q; Địa chỉ: Số A đường L, phường T, quận C, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Minh P, sinh năm 1984; Địa chỉ nơi làm việc: Lầu E, số E đường C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (văn bản ủy quyền số 4030/UQ-MBAMC ngày 25/12/2025).
(Ông P có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Đoàn Thị H, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số A đường Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà H vắng mặt tại phiên tòa)
· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần K; Địa chỉ: Tầng D, Trung tâm Thương mại V, số A Xa lộ H, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Minh P là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Q và bà Đoàn Thị H, đã ký kết Hợp đồng cho vay (V/v cho vay cá nhân có tài sản bảo đảm) số: 67555.21.157.11676511.TD ngày 15/06/2021 cùng các khế ước nhận nợ có nội dung cụ thể như sau:
- Số tiền vay: 1.762.027.995 (Một tỷ, bảy trăm sáu mươi hai triệu, không trăm hai mươi bảy ngàn, chín trăm chín mươi lăm) đồng.
- Mục đích vay: Thanh toán một phần tiền mua căn hộ chung cư số S6.0304.08 Dự án Vinhomes G Quận I (nay là TP .), Thành phố Hồ Chí Minh;
- Thời hạn vay: 372 tháng;
- Lãi suất vay: Theo quy định tại văn bản nhận nợ giữa MB và Khách hàng;
- Lãi suất quá hạn: Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn;
- Tiền lãi chậm trả: Trường hợp khách hàng chậm trả lãi, khách hàng phải thanh toán tiền lãi bằng 10%/năm tính trên số nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Q đã giải ngân và bà Đoàn Thị H đã nhận nợ theo Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ đã ký kết, cụ thể như sau:
Tài sản bảo đảm:
Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ Hợp đồng cho vay nêu trên, bà Đoàn Thị H đã ký kết với Ngân hàng Thương mại cổ phần Q Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở số: 67556.21.157.11676511.BĐ ngày 15/06/2021 và đăng ký biện pháp bảo đảm, Hợp đồng tại Trung Tâm Đăng ký giao dịch tài sản tại Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật. Tài sản thế chấp cụ thể là: Quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán Căn hộ số: S6.0304.08/VHGP/HĐMBCH ngày 29/05/2021 giữa Công ty Cổ phần K và bà Đoàn Thị H và các phụ lục đính kèm nếu có (sau đây gọi là “Hợp đồng mua bán”) về việc mua bán căn hộ số: 4.08, tại tầng 04, diện tích sử dụng căn hộ: 30.5 m2 thuộc Dự án Khu nhà ở cao tầng thuộc các lô đất số A1, A2, A3, A4, A5, A6 – Khu dân cư C (Vinhomes G hoặc tên gọi khác theo quyết định của Chủ Đầu Tư hoặc Cơ quan có thẩm quyền từng thời điểm) tại Phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam (sau đây gọi là “Nhà ở”) theo giấy tờ tài sản thế chấp: Hợp đồng
mua bán căn hộ số: S6.0304.08/VHGP/HĐMBCH ngày 29/05/2021 giữa Công Ty Cổ Phần K và bà Đoàn Thị H.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với bà Đoàn Thị H, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên bà Đoàn Thị H vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Ngân hàng yêu cầu Đoàn Thị H phải thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền là: 2.263.337.464 đồng (Hai tỷ, hai trăm sáu mươi ba triệu, ba trăm ba mươi bảy ngàn, bốn trăm sáu mươi bốn) đồng. Bao gồm: Nợ gốc là: 1.742.477.203 đồng; Nợ lãi quá hạn là: 520.860.261 đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 26/06/2025). Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Đoàn Thị H không thanh toán toàn bộ khoản nợ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại toàn bộ tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở số: 67556.21.157.11676511.BĐ ngày 15/06/2021. Tài sản thế chấp là: Quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán Căn hộ số: S6.0304.08/VHGP/HĐMBCH ngày 29/05/2021 giữa Công Ty Cổ Phần K và bà Đoàn Thị H về việc mua bán căn hộ số: 4.08, tại tầng 04, diện tích sử dụng căn hộ: 30.5 m2 thuộc Dự án Khu nhà ở cao tầng thuộc các lô đất số A1, A2, A3, A4, A5, A6 – Khu dân cư C (Vinhomes G hoặc tên gọi khác theo quyết định của Chủ Đầu Tư hoặc Cơ quan có thẩm quyền từng thời điểm) tại Phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam theo giấy tờ tài sản thế chấp: Hợp đồng mua bán căn hộ số: S6.0304.08/VHGP/HĐMBCH ngày 29/05/2021 giữa Công Ty Cổ Phần K và bà Đoàn Thị H và các phụ lục đính kèm.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán, xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Đoàn Thị H đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Nếu số tiền thu được từ bán, xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Đoàn Thị H vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q.
Yêu cầu bà Đoàn Thị H có trách nhiệm hoàn trả chi phí tố tụng cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q tổng cộng 10.000.000 đồng.
2. Bị đơn – Bà Đoàn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Công ty cổ phần K có Công văn phúc đáp ngày 19/3/2025 về việc xin vắng mặt tại địa điểm thẩm định tài sản, các phiên họp và trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự:
Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về phiên tòa sơ thẩm.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà Đoàn Thị H thanh toán tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, bị đơn có đăng ký tạm trú tại địa chỉ: Số A (số M) đường Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Đại diện nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung:
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa, bà Đoàn Thị H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có lời khai và các tài liệu chứng cứ giao nộp cho Tòa án để thể hiện ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà Đoàn Thị H đã từ bỏ quyền được chứng minh của mình nên phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp để xem xét giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q yêu cầu bà Đoàn Thị H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc, lãi tổng cộng là 2.263.337.464 (Hai tỷ, hai trăm sáu mươi ba triệu, ba trăm ba mươi bảy ngàn, bốn trăm sáu mươi bốn) đồng. Căn cứ đơn khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện giữa nguyên đơn và bị đơn có giao kết hợp đồng cho vay và các khế ước nhận nợ, thỏa thuận hạn mức vay là 1.762.027.995 đồng, với mục đích vay thanh toán một phần tiền mua căn hộ chung cư số S6.0304.08 Dự án Vinhomes G Quận I (nay là TP .), Thành phố Hồ Chí Minh; Lãi suất vay: Theo quy định tại văn bản nhận nợ giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Q và bà Đoàn Thị H; Lãi suất quá hạn: Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn; T lãi chậm trả: Trường hợp bà Đoàn Thị Hồng C trả lãi, bà Đoàn Thị H phải thanh toán tiền lãi bằng 10%/năm tính trên số nợ lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Về nợ gốc và nợ lãi:
Xét thấy trong quá trình thanh toán, bà Đoàn Thị H đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Q. Nợ gốc, lãi tổng cộng là 2.263.337.464 đồng, trong đó nợ gốc là 1.742.477.203 đồng và tiền lãi quá hạn là 520.860.261 đồng đồng (Dư nợ tạm tính đến ngày 26/6/2025). Nguyên đơn đã áp dụng mức lãi suất và thời gian tính lãi đúng quy định của hợp đồng và phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, do đó việc yêu cầu buộc bị đơn phải thanh toán nợ gốc và lãi quá hạn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ngân hàng yêu cầu bà Đoàn Thị H tiếp tục trả tiền lãi quá hạn theo hợp đồng cho vay đã ký kết kể từ ngày 31/7/2023 cho đến khi bà Đoàn Thị H thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bà Đoàn Thị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân Hàng yêu cầu bà Đoàn Thị H trả nợ gốc và nợ lãi ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét yêu cầu phát mại tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ biên bản tại thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/4/2025 hiện trạng căn hộ S6.0304.08/VHGP/HĐMBCH theo hợp đồng mua bán căn hộ giữa Công ty cổ phần K và bà Đoàn Thị H căn hộ số 4.08 tại Tầng D, diện tích căn hộ 30,5 m² thuộc dự án khu nhà ở cao tầng thuộc lô đất A1, A2, A3, A4, A5, A6 – Khu dân cư C (Vinhomes G tại phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh không có sự thay đổi so với hợp đồng mua bán căn hộ và hiện tại không có người sử dụng trong căn hộ nêu trên.
Căn cứ Ngân hàng Thương mại cổ phần Q và bà Đoàn Thị H có ký kết Hợp đồng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán nhà ở số 67556.21.157.11676511.BĐ ngày 15/6/2021, cụ thể là quyền tài sản phát sinh từ Hợp đồng mua bán Căn hộ số: S6.0304.08/VHGP/HĐMBCH ngày 29/5/2021 giữa Công ty Cổ phần K và bà Đoàn Thị H đối với căn hộ số: 4.08, tại tầng 04, thuộc Dự án Khu nhà ở cao tầng thuộc các lô đất số A1, A2, A3, A4, A5, A6 – Khu dân cư C. Hợp đồng thế chấp được ký kết giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định pháp luật nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ ngày ký kết. Sau khi thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Thành Phố Hồ Chí Minh nên việc thế chấp là hợp pháp. Do đó, Ngân hàng yêu cầu phát mại toàn bộ Căn hộ chung cư số: 4.08, tại tầng 04 thuộc Dự án Vinhomes G quận I (nay là TP .), Thành phố Hồ Chí Minh, khu nhà ở cao tầng thuộc các lô đất số A1, A2, A3, A4, A5, A6 – Khu dân cư C trong trường hợp kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bà Đoàn Thị H không thanh toán toàn bộ khoản nợ là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Sau khi bà Đoàn Thị H thanh toán hết số tiền nêu trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q có trách nhiệm trả lại bản chính hợp đồng mua bán căn hộ liên quan đến tài sản thế chấp trên cho bà Đoàn Thị H.
[4] Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ, các khoản phải nộp cho Nhà nước (nếu có) và xử lý tài sản thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch được trả cho bà Đoàn Thị H. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ, các khoản phải nộp cho Nhà nước (nếu có) và xử lý tài sản thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì bà Đoàn Thị H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q cho đến khi thanh toán xong hết toàn bộ khoản nợ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/6/2025) bà Đoàn Thị H tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho vay cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng cho vay các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
[4] Về chi phí khác: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn chi phí tố tụng tổng cộng là 10.000.000 đồng theo quy định tại Điều 157, Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Đoàn Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[6] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh về việc giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 và khoản 4 Điều 91; khoản 2 Điều 92; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 299; Điều 317; Điều 318; Điều 320; Điều 323 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc bà Đoàn Thị H trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q tổng cộng nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 26/6/2025 là 2.263.337.464 đồng (Hai tỷ, hai trăm sáu mươi ba triệu, ba trăm ba mươi bảy ngàn, bốn trăm sáu mươi bốn) đồng, trong đó: Nợ gốc là 1.742.477.203 đồng và lãi quá hạn là 520.860.261 đồng theo Hợp đồng cho vay số: 67555.21.157.11676511.TD ngày 15/06/2021 cùng các khế ước nhận nợ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/6/2025) bà Đoàn Thị H tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng vay cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng vay các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Sau khi bà Đoàn Thị H thanh toán hết số tiền nêu trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q có trách nhiệm trả lại bản chính hợp đồng mua bán căn hộ liên quan đến tài sản thế chấp trên cho bà Đoàn Thị H.
Trong trường hợp kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bà Đoàn Thị H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản đảm bảo gồm: Căn hộ số: 4.08, tại tầng 04, thuộc Dự án Khu nhà ở cao tầng thuộc các lô đất số A1, A2, A3, A4, A5, A6 – Khu dân cư C. Trường hợp số tiền phát mại tài sản không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ thì bà Đoàn Thị H vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q cho đến khi khoản nợ được tất toán.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ, các khoản phải nộp cho Nhà nước (nếu có) và xử lý tài sản thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì số tiền chênh lệch được trả cho bà Đoàn Thị H. Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ, các khoản phải nộp cho Nhà nước (nếu có) và xử lý tài sản thế chấp nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo đảm thì bà Đoàn Thị H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng Thương mại cổ phần Q cho đến khi thanh toán xong hết toàn bộ khoản nợ.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn bà Đoàn Thị H phải nộp số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 77.266.749 (Bảy mươi bảy triệu hai trăm sáu mươi sáu ngàn bảy trăm bốn mươi chín) đồng.
Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí 37.392.940 (Ba mươi bảy triệu ba trăm chín mươi hai ngàn chín trăm bốn mươi) đồng cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q theo biên lai thu số 0057242 ngày 05/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Đoàn Thị H có trách nhiệm hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Q chi phí tố tụng là 10.000.000 đồng.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Nga |
Bản án số 338/2025/DS-ST ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 338/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại cổ phần Q - Đoàn Thị H
