TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 338/2025/DS-ST Ngày: 20-6-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên
- Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên Tòa: Bà Phùng Thị Ngọc Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 990/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 11 năm 2024 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/2025/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 04 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S;
Địa chỉ: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lã Ngọc M, sinh năm 1970; Địa chỉ: Lầu E, số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh – Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Theo Giấy ủy quyền số 5075/2024/UQ-TGĐ ngày 08/07/2024) (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 2001;
Địa chỉ: Số G ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 18/10/2021, bà Nguyễn Thị Kim T có ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần S (sau đây gọi là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp Thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng JCB JSpeedy Cre Classic 3453153706 với hạn mức là 11.000.000 đồng. Đến ngày 01/11/2021, bà T thực hiện đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng S1 với số tiền giải ngân là 9.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân.
Đối với Thẻ tín dụng dụng J 3453153706: Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 300.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ đến nay, bà T không thanh toán cho Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, ngày 16/03/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của bà T và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu (dư nợ gốc) sang nợ quá hạn theo Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.
Tính đến ngày 20/6/2025, thẻ tín dụng JCB JSpeedy Cre Classic 3453153706 của bà T còn nợ tổng số tiền là 1.701.013 đồng, trong đó: dư nợ gốc: 666.682 đồng; Lãi quá hạn: 1.034.331đồng; Lãi suất trong hạn: 2.6%/tháng; Lãi suất quá hạn: 3.9%/tháng (2.6% x 150%).
Đối với khoản vay tiêu dùng S1 giải ngân qua số tài khoản 3203120096: Từ ngày giải ngân số tiền 9.000.000 đồng đến nay, bà T đã không thanh toán cho Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 3 của Bản Điều khoản và Điều kiện vay tiêu dùng trên ứng dụng S1, nên vào ngày 26/03/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng khoản vay và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu (dư nợ gốc) sang nợ quá hạn theo Điều 5 của Bản Điều khoản và Điều kiện vay tiêu dùng trên ứng dụng S1.
Tính đến ngày 20/6/2025, khoản vay tiêu dùng S1 giải ngân qua số tài khoản 3203120096 của bà T còn nợ tổng số tiền là 17.418.424 đồng, trong đó: dư nợ gốc: 9.577.500 đồng; Lãi quá hạn: 7.840.924 đồng; Lãi suất trong hạn: 1.38%/tháng; Lãi suất quá hạn: 2.07%/tháng (1.38% x 150%).
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn buộc bà Nguyễn Thị Kim T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền là 19.119.437 đồng, tính đến ngày 20/6/2025 cho cả 02 khoản vay, trong đó: Nợ gốc: 10.244.182 đồng; Lãi quá hạn: 8.875.255 đồng và bà Nguyễn Thị Kim T phải thanh toán lãi phát sinh từ ngày 21/6/2025 cho đến khi trả hết khoản vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim T đã được Tòa án thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, Viện kiểm sát kiến nghị để Tòa án rút kinh nghiệm. Các đương sự đã được bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do.
Về nội dung vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện bà Nguyễn Thị Kim T yêu cầu bà T trả nợ vay tín dụng, xác định đây là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng, bị đơn bà T có địa chỉ cư trú tại huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.
[1.2] Về việc vắng mặt tại phiên tòa: bà T đã được Tòa án niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án, trong đó có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, kèm các Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng vắng mặt không lý do; người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về việc tham gia phiên tòa của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn: Trong vụ án này, Tòa án có tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Căn cứ bản tự khai của nguyên đơn, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định Ngân hàng Thương mại Cổ phần S và bà Nguyễn Thị Kim T có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/10/2021 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của ngân hàng); Ngân hàng đã cấp cho bà T 01 thẻ tín dụng, hạn mức sử dụng là 11.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Ngày 01/11/2021 bà T thực hiện đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng S1 và được giải ngân số tiền 9.000.000 đồng. Việc giao kết hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, lãi suất thỏa thuận phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nên các bên có trách nhiệm phải thực hiện đúng theo thỏa thuận.
Đối với thẻ tín dụng J 3453153706: quá trình sử dụng thẻ tín dụng bà T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 300.000 đồng, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà T không thanh toán cho Ngân hàng. Do bà T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 16/3/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, dư nợ gốc tại thời điểm này là 666.682 đồng, đến nay bà T vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, lãi. Do đó, Ngân hàng yêu cầu bà T phải thanh toán số tiền nợ thẻ tín dụng là phù hợp. Căn cứ bảng tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp thì tính đến ngày 20/6/2025 bà T phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ thẻ tín dụng là 1.701.013 đồng, trong đó: nợ gốc là 666.682 đồng, lãi quá hạn là 1.034.331 đồng.
Đối với khoản vay tiêu dùng S1 được Ngân hàng giải ngân qua số tài khoản 3203120096: từ ngày được Ngân hàng giải ngân số tiền 9.000.000 đồng vào tài khoản đến nay bà T không thanh toán cho Ngân hàng. Do bà T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 26/3/2022 Ngân hàng đã chuyển tòan bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Như vậy, Ngân hàng yêu cầu bà T phải thanh toán số tiền nợ vay tiêu dùng trên ứng dụng S1 là phù hợp. Căn cứ bảng tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp thì tính đến ngày 20/6/2025 bà T phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ vay tiêu dùng là 17.418.424 đồng, trong đó: nợ gốc: 9.577.500 đồng, lãi quá hạn: 7.840.924 đồng.
[2.2] Quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, mặc dù những lời trình bày, cung cấp tài liệu, chứng cứ chỉ từ một phía nguyên đơn, tuy nhiên tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ”. Bị đơn bà Nguyễn Thị Kim T đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến phản hồi, không cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh nên phải tự chịu trách nhiệm.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ của 02 khoản vay tạm tính đến ngày 20/6/2025, tổng cộng là 19.119.437 đồng, trong đó: nợ gốc là 10.244.182 đồng, lãi quá hạn là 8.875.255 đồng và phải thanh toán lãi phát sinh từ ngày 21/6/2025 đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng là phù hợp với quy định tại các Điều 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, nên có căn cứ chấp nhận.
Về thời hạn thanh toán: Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu nên bị đơn có nghĩa vụ thanh toán một lần toàn bộ số tiền trên ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
[3] Nội dung phát biểu ý kiến tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 180, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 280, Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Áp dụng Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Áp dụng Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S.
Buộc bà Nguyễn Thị Kim T có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền nợ gốc và lãi tạm tính đến ngày 20/6/2025 là 19.119.437 (mười chín triệu một trăm mười chín ngàn bốn trăm ba mươi bảy) đồng, trong đó:
Số tiền nợ của khoản vay thẻ tín dụng là 1.701.013 (một triệu bảy trăm lẻ một ngàn không trăm mười ba) đồng, bao gồm: dư nợ gốc: 666.682 (sáu trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm tám mươi hai) đồng; lãi quá hạn: 1.034.331 (một triệu không trăm ba mươi bốn ngàn ba trăm ba mươi mốt) đồng.
Số tiền nợ của khoản vay tiêu dùng là 17.418.424 (mười bảy triệu bốn trăm mười tám ngàn bốn trăm hai mươi bốn) đồng, trong đó: dư nợ gốc: 9.577.500 (chín triệu năm trăm bảy mươi bảy ngàn năm trăm) đồng; lãi quá hạn: 7.840.924 (bảy triệu tám trăm bốn mươi ngàn chín trăm hai mươi bốn) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bên phải thi hành án phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Phương thức và thời hạn thanh toán: Trả một lần toàn bộ số tiền trên ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Kim T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 955.972 (chín trăm năm mươi lăm ngàn chín trăm bảy mươi hai) đồng. H lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 411.468 (bốn trăm mười một ngàn bốn trăm sáu mươi tám) đồng tiền tạm ứng án phí do Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0047309 ngày 01/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Oanh |
Bản án số 338/2025/DS-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 338/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
