TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 338/2025/DS-PT Ngày: 20-11-2025 V/v: "Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Châu Thạch
Ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Tất Thái – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Ngô Hoàng Thanh Hải – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 322/2025/TLPT-DS ngày 16 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp: "Hợp đồng dân sự vay tài sản".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 13/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 533/2025/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Ka R, sinh năm 1978. Địa chỉ: Tổ Đ, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 2001. Địa chỉ: Thôn 1, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 27/10/2025). Vắng mặt.
- Bị đơn:
- - Ông K, sinh năm 1968 và bà Ka H, sinh năm 1972. Cùng địa chỉ: Tổ Đ, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Ông K vắng mặt, bà Ka H có mặt.
- - Bà Ka H1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Tổ Đ, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông K và bà Ka H1: Bà Ka H, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ Đ, xã B, tỉnh Lâm Đồng. Là người đại diện theo ủy quyền (Các văn bản ủy quyền ngày 23/9/2024 và ngày 05/3/2025). Có mặt.
Người kháng cáo: Bà Ka H - Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Ka R trình bày:
Ngày 29/3/2022, bà có cho bà Ka H1 và vợ chồng ông K, bà Ka H vay số tiền 550.000.000 đồng với mục đích để làm ăn, lãi suất 1,5%/tháng, thời hạn vay 03 tháng. Đến nay đã quá hạn nhưng bà Ka H1, vợ chồng ông K và bà Ka H vẫn chưa trả.
Do vậy, bà khởi kiện yêu cầu bà Ka H1 và vợ chồng ông K, bà Ka H trả cho bà số tiền gốc 550.000.000 đồng, lãi phát sinh tính từ ngày 30/6/2022, cụ thể: 550.000.000 đồng x (1,5 x 150%/tháng) x 16 tháng = 198.000.000 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi là 748.000.000 đồng.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Ka H trình bày:
- Trước đây vợ chồng bà có vay của bà Ka R số tiền 550.000.000 đồng, mục đích vay để làm ăn, khi vay không có lãi suất, thời hạn vay là 03 tháng. Tại thời điểm vay do vợ chồng bà không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên có mượn sổ đỏ của bà Ka H1 cầm cố cho bà Ka R để làm tin nhưng thực tế bà Ka H1 không vay số tiền trên mà người vay và sử dụng là vợ chồng bà. Sau khi vay vợ chồng bà đã trả được số tiền gốc 10.000.000 đồng cho bà Ka R nhưng không nhớ ngày tháng năm nào. Do vậy, vợ chồng bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà chỉ đồng ý trả số tiền gốc 540.000.000 đồng và lãi phát sinh.
- Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Ka H1 trình bày:
Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì bà không vay số tiền 550.000.000 đồng của bà Ka R mà chỉ cho vợ chồng ông K, bà Ka H mượn 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Toàn bộ số tiền trên bà không được nhận cũng không được sử dụng vì người vay và nhận số tiền 550.000.000 đồng là vợ chồng bà Ka H và ông K’ Beo. Đồng thời, bà Ka H1 đề nghị bà Ka R trả lại 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 114551 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 25/3/2015 đứng tên bà Ka H1 đối với thửa đất số 91, tờ bản đồ 121, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng.
- Bà Ka H1 đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tòa án Dân sự sơ thẩm số 24/2025/DS-ST ngày 13 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Lâm Đồng đã xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ka R về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn bà Ka H, ông K và bà Ka H1.
- Buộc vợ chồng bà Ka H, ông K và bà Ka H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Ka R số tiền 693.797.500 đồng (trong đó tiền vay 550.000.000 đồng; lãi 143.797.500 đồng) theo tỷ lệ bà Ka H phải chịu 1/3 với số tiền 231.265.833 đồng (gốc 183.333.333 đồng, lãi 47.932.500 đồng), ông K phải chịu 1/3 với số tiền 231.265.833 đồng (gốc 183.333.333 đồng, lãi 47.932.500 đồng), bà Ka H1 phải chịu 1/3 với số tiền 231.265.833 đồng (gốc 183.333.333 đồng, lãi 47.932.500 đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền lãi là 130.102.500 đồng.
- Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.
Ngày 25/8/2025 bà K2 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định lại tư cách tố tụng của bà Ka H1 và xem xét lại số tiền 10.000.000 đồng bà Ka H đã trả cho bà K3.
Tại phiên tòa,
Bà Ka H vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Ka H, sửa bản án sơ thẩm về án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của bà Ka H, thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Qua xem xét kháng cáo của Bà Ka H thấy rằng:
[2.1]. Bà Ka H thừa nhận vợ chồng bà có vay của bà Ka R số tiền 550.000.000 đồng không tính lãi suất, thời hạn vay 03 tháng. Tuy nhiên, tại thời điểm vay bà có mượn của bà Ka H1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 114551 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 25/3/2015 đối với thửa đất số 91, tờ bản đồ số 121 tại xã L, huyện B đứng tên bà Ka H1 cầm cố cho bà Ka R để làm tin, thực tế bà Ka H1 không vay số tiền trên mà người vay và sử dụng số tiền trên là vợ chồng bà Ka H và ông K.
Bị đơn bà Ka H1 cũng trình bày không vay tiền của bà Ka R mà chỉ cho vợ chồng Ka H, K mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 114551 nêu trên.
Tuy nhiên, hồ sơ vụ án thể hiện tại Giấy cam kết mượn tiền ngày 29/3/2022 thấy rằng tại vị trí ghi người vay thì bà Ka H1, ông K và bà Ka H đều ký xác nhận. Quá trình giải quyết vụ án, bà Ka H1, ông K, bà Ka H đều thừa nhận chữ ký trong giấy vay tiền là của mình và nguyên đơn cũng trình bày cho cả ba người bà Ka H1, ông K, bà Ka H vay tiền. Phía bị đơn trình bày ngoài giấy vay tiền ngày 29/3/2022 thì các bên còn viết lại giấy vay của số tiền này nhưng bà Ka H1 chỉ ký với tư cách là người làm chứng nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nội dung này. Do vậy, việc bà Ka H1 trình bày không vay tiền của bà Ka R là không có căn cứ để chấp nhận, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Ka H1, ông K, bà Ka H có trách nhiệm liên đới trả tiền vay cho nguyên đơn là phù hợp quy định của pháp luật.
[2.2]. Ngoài ra, bà Ka H trình bày đã trả được tiền gốc 10.000.000 đồng nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ để chứng minh, trong khi đó nguyên đơn không thừa nhận nên không có cơ sở xem xét.
Từ những phân tích nhận định trên thấy rằng bà Ka H kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới để làm thay đổi bản chất vụ án nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà Ka H.
Những nội dung khác không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[3]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Ka H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền khởi kiện không được chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn. Tòa án cấp sơ thẩm buộc mỗi bị đơn phải chịu 6.505.126 đồng là không đúng; án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 693.797.500 đồng là: 20.000.000 đồng + (293.797.500 x 4%) = 31.751.900 đồng. Do đó, mỗi bị đơn phải phải chịu 10.584.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Ka H, sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ka R về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn bà Ka H, ông K và bà Ka H1.
- Buộc bà Ka H, ông K và bà Ka H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Ka R số tiền 693.797.500 (Sáu trăm chín mươi ba triệu bảy trăm chín mươi bảy nghìn năm trăm) đồng, gồm tiền vay gốc là 550.000.000 đồng và tiền lãi là 143.797.500 đồng. Trong đó theo tỷ lệ:
- - Bà Ka H phải trả 1/3 với số tiền 231.265.833 đồng (tiền gốc 183.333.333 đồng và tiền lãi 47.932.500 đồng).
- - Ông K phải trả 1/3 với số tiền 231.265.833 đồng (tiền gốc 183.333.333 đồng và tiền lãi 47.932.500 đồng).
- - Bà Ka H1 phải trả 1/3 với số tiền 231.265.833 đồng (tiền gốc 183.333.333 đồng và tiền lãi 47.932.500 đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền lãi 130.102.500 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Bà Ka R phải chịu chi phí giám định và có trách nhiệm trả lại cho bà Ka H số tiền 8.300.000 (Tám triệu ba trăm nghìn) đồng.
- Về án phí:
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Ka H, ông K và bà Ka H1 mỗi người phải chịu 10.584.000 (Mười triệu năm trăm tám mươi bốn nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bà Ka R phải chịu 6.505.125 (Sáu triệu năm trăm lẻ năm nghìn một trăm hai mươi lăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 16.900.000 đồng bà Ka R đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0007019 ngày 30/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 4 – Lâm Đồng). Bà Ka R được nhận lại số tiền 10.454.875 đồng.
- - Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ka H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng bà Ka H đã nộp theo Biên lai thu số 0003440 ngày 25/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Bà Ka H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày 14/8/2025 cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành Án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Huỳnh Châu Thạch | Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc |
Nguyễn Văn Thanh |
Bản án số 338/2025/DS-PT ngày 20/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 338/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản
