|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T THÀNH PHỐ H Bản án số 338/2024/DS-ST Ngày 17-6-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Th.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị T.
- Bà Bùi D H.
Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Tiền Quí Nh – Thư ký Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị V – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 528/2023/TLST-DS ngày 26 tháng 10 năm 2023, về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 129/2024/QĐST-DS ngày 17/5/2024, giữa:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP T,
Địa chỉ: Phường T, Quận B, Thành phố H.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành Nh, sinh năm 1993, địa chỉ: Phường S, Quận B, Thành phố H, là người đại diện ủy quyền (Giấy ủy quyền số 3378/2024/UQ-TGĐ ngày 16/5/2024). (Có đơn xin xét xử mặt).
Bị đơn: Bà Trần Thị D, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Phường M, quận BT, Thành phố H. Địa chỉ liên lạc: phường B, quận T, Thành phố H. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và bản tự khai, Ngân hàng TMCP T (gọi tắt là S) có ông Nguyễn Thành Nh đại diện ủy quyền, trình bày: Ngày 11/12/2017, bà Trần Thị D có ký với Ngân hàng TMCP T (gọi tắt là S) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điền khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của S – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, có mức lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà D đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 634.902.217 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, bà D đã thanh toán cho S số tiền 615.152.415 đồng (chi tiết các lần thanh toán có bản sao kê tóm tắt kèm theo). Tổng số tiền thanh toán trên được áp dụng theo Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà D vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà D vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S nên ngày 01/02/2020, S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của S và đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 54.285.503 đồng làm nợ gốc và áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Sau khi chuyển nợ quá hạn, bà D có thanh toán thêm số tiền 12.411.000 đồng (chi tiết theo sao kê tóm tắt), số tiền này được ưu tiên trừ vào số tiền nợ gốc là 54.285.503 đồng.
Tính đến ngày 17/6/2024, bà D còn dư nợ gốc là 41.874.503 đồng và lãi quá hạn là 90.439.999 đồng. Tổng cộng là: 132.314.502 (Một trăm ba mươi hai triệu ba trăm mười bốn ngàn năm trăm lẻ hai) đồng. (chi tiết lãi quá hạn, dư nợ trong sao kê tóm tắt kèm theo). Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc là 41.874.503 đồng với lãi suất quá hạn là 3,9%/tháng (2,6% x 150%) từ ngày S chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến các lần thanh toán tiếp theo của bà D và lãi suất quá hạn sẽ tiếp tục tính trên dự nợ gốc còn lại cho đến khi bà D thanh toán xong khoản nợ gốc.
Do đó, S yêu cầu bà D phải trả làm một lần tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 17/6/2024 là 132.314.502 (Một trăm ba mươi hai triệu ba trăm mười bốn ngàn năm trăm lẻ hai) đồng, trong đó, nợ gốc là 41.874.503 đồng và lãi quá hạn là 90.439.999 đồng. Đồng thời buộc bà Trần Thị D phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 18/6/2024 cho đến khi hoàn tất việc trả nợ.
Bà Trần Thị D đã được triệu tập hợp lệ để giải quyết việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với S nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Trần Thị D.
Tại phiên tòa:
Ngân hàng TMCP T (gọi tắt là S) có ông Nguyễn Thành Nh đại diện ủy quyền, vẫn giữ yêu cầu khởi kiện buộc bà Trần Thị D phải trả làm một lần tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 17/6/2024 là 132.314.502 (Một trăm ba mươi hai triệu ba trăm mười bốn ngàn năm trăm lẻ hai) đồng, trong đó, nợ gốc là 41.874.503 đồng và lãi quá hạn là 90.439.999 đồng. Đồng thời buộc bà Trần Thị D phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 18/6/2024 cho đến khi hoàn tất việc trả nợ và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bà Trần Thị D đã được triệu tập hợp lệ để giải quyết việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với S nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm xét xử, Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật như thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách và mối quan hệ của những người tham gia tố tụng; Tiến hành xác minh thu thập chứng cứ; Thông báo và tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng theo quy định, tuy nhiên về thời hạn xét xử có chậm hơn so với quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án đúng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, tuân thủ đúng pháp luật; Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng pháp luật.
Về nội dung: Giữa S với bà D có ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điền khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ của S – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, có mức lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện giao dịch đối với tài khoản thẻ tín dụng nói trên, bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên S khởi kiện yêu cầu bà D phải trả toàn bộ số tiền nợ là tạm tính đến ngày 17/6/2024 là 132.314.502 (Một trăm ba mươi hai triệu ba trăm mười bốn ngàn năm trăm lẻ hai) đồng, trong đó, nợ gốc là 41.874.503 đồng và lãi quá hạn là 90.439.999 đồng. Đồng thời buộc bà D phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 18/6/2024 cho đến khi hoàn tất việc trả nợ là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật trong vụ án này là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng, bị đơn, bà Trần Thị D có địa chỉ tại, phường B, quận T, theo quy định tại khoản 3 Điều 26; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận T, Thành phố H.
[1.1] Ngân hàng TMCP T có ông Nguyễn Thành Nh đại diện ủy quyền, vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà Trần Thị D đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai, yêu cầu có mặt để giải quyết việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với với Ngân hàng TMCP T nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228, Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung: Ngân hàng TMCP T (gọi tắt là S) với bà D có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/12/2017. Theo đó, S đã cấp cho bà D thẻ tín dụng số 472075-2819, có hạn mức sử dụng là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, bà D đã vi phạm hợp đồng nên S có đơn khởi kiện bà D tại Tòa án nhân dân quận T. Qua yêu cầu khởi kiện của S, Hội đồng xét xử, xét thấy:
[2.1] Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/12/2017 đã được ký kết giữa đôi bên thì S đã cấp cho bà D thẻ tín dụng có hạn mức 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Do đó, có cơ sở xác định bà D có ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/12/2017 và đã được S cấp thẻ tín dụng có hạn mức như trên.
[2.2] S cho rằng, sau khi được cấp thẻ tín dụng hạn mức 50.000.000 đồng có mức lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng với mục đích tiêu dùng cá nhân, trong quá trình thực hiện hợp đồng thì bà D đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 634.902.217 đồng, đã thanh toán số tiền là 615.152.415 đồng (chi tiết cho các lần thanh toán có bảng sao kê tóm tắt đính kèm) và đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 01/02/2020, S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá tại thời điểm này là 54.285.503 đồng làm nợ gốc và áp dụng lãi suất nợ quá hạn với lãi suất quá hạn là 3,9%/tháng (2,6% x 150%). Sau khi chuyển nợ quá hạn, bà D có thanh toán thêm cho S số tiền 12.411.000 đồng (chi tiết theo sao kê tóm tắt), số tiền này được ưu tiên trừ vào số tiền nợ gốc là 54.285.503 đồng. Hiện nay, số tiền lãi quá hạn được tiếp tục tính trên số tiền nợ gốc là 41.874.503 đồng với lãi suất quá hạn là 3,9%/tháng. Tính đến ngày 17/6/2024, bà D còn dư nợ gốc là 41.874.503 đồng và lãi quá hạn là 90.439.999 đồng. Tổng cộng là: 132.314.502 (Một trăm ba mươi hai triệu ba trăm mười bốn ngàn năm trăm lẻ hai) đồng. Do đó, S yêu cầu buộc bà D phải trả số tiền vốn và lãi quá hạn còn nợ là 132.314.502 (Một trăm ba mươi hai triệu ba trăm mười bốn ngàn năm trăm lẻ hai) đồng, thanh toán làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật và yêu cầu bà D phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 18/6/2024 cho đến khi hoàn tất việc trả nợ.
Xét thấy, theo khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, quy định: “ Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.”. Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước thì: “Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ”; theo điểm đ khoản 1 Điều 13 quy định: “Quy định về phí (các loại phí, các thay đổi về phí)” và điểm g khoản 1 Điều 13 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 và được sửa đổi, bổ sung tại khoản 6 Điều 1 của Thông tư số 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng Nhà nước, quy định: “Thỏa thuận về việc cấp tín dụng cho chủ thẻ, bao gồm: Các hạn mức và sự thay đổi hạn mức sử dụng thẻ, bao gồm cả hạn mức thấu chi (đối với thẻ ghi nợ) và hạn mức tín dụng; lãi suất, phương thức tính lãi tiền vay, thứ tự thu hồi nợ gốc và lãi tiền vay (đối với thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ được thấu chi); thời hạn cấp tín dụng, mục đích vay, thời hạn trả nợ, mức trả nợ tối thiểu, phương thức trả nợ, phí phạt khoản nợ quá hạn (nếu có). Thỏa thuận về việc cấp tín dụng cho chủ thẻ có thể được nêu trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ hoặc tại văn bản thỏa thuận riêng”. Đồng thời, theo điểm b khoản 1 Điều 15 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 và được sửa đổi, bổ sung tại khoản 7 Điều 1 của Thông tư số 17/2021/TT-NHNN ngày 16/11/2021 của Ngân hàng Nhà nước, quy định: “TCPHT phải có quy định nội bộ về cấp tín dụng qua thẻ tín dụng phù hợp với quy định pháp luật về đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, hạn mức, điều kiện, thời hạn cấp tín dụng, thời hạn trả nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mức trả nợ tối thiểu, lãi suất áp dụng, phương thức tính lãi tiền vay, thứ tự thu hồi nợ gốc và lãi tiền vay, phí phạt khoản nợ quá hạn, mục đích vay, quy trình thẩm định và quyết định cấp tín dụng qua thẻ theo nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cấp tín dụng, các biện pháp áp dụng thu hồi nợ để đảm bảo trách nhiệm các bộ phận tại TCPHT trong quá trình thu hồi nợ”.
Qua xem xét Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/12/2017 được ký kết giữa bà D với S, tại phần cam kết, có nội dung: “...Bằng việc ký vào Giấy đề nghị này, tôi xác nhận rằng tôi đã đọc và đồng ý bị ràng buộc bởi Điều khoản và Điều kiện của thẻ tín dụng và cùng với Giấy đề nghị này, tạo nên một hợp đồng chi phối việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng S có tính ràng buộc về mặt pháp lý giữa tôi và S. Tôi chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ và trách nhiệm phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng mà tôi đã được cấp....”. Như vậy, hợp đồng ký kết giữa bà D với S là thỏa thuận cấp thẻ tín dụng có hạn mức, theo đó S cấp cho bà D một khoản tiền có hạn mức 50.000.000 đồng, mức lãi suất do các bên thỏa thuận theo quy định, đồng thời các bên phải thực hiện đúng theo Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S (Đơn vị phát hành thẻ). Theo Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S, có hiệu lực từ 15/08/2016 (gắn với Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/12/2017 được ký kết giữa bà D với S), tại mục 1.1 quy định: “Thẻ tín dụng (Thẻ): là thẻ cho phép Chủ Thẻ thực hiện Giao Dịch trong Hạn Mức được cấp theo thỏa thuận với S, bao gồm Thẻ nội địa và Thẻ quốc tế” và tại mục 1.9 quy định: “ Dư Nợ: là số tiền mà Chủ Thẻ đã sử dụng bao gồm giá trị các Giao Dịch, lãi và phí liên quan đến việc sử dụng Thẻ”. Tại điểm a mục 23.1 quy định: “Chủ Thẻ đồng ý thanh toán lãi phát sinh trên Thẻ. Lãi được tính như sau: Đối với Giao Dịch Mua Hàng Hóa/Thanh Toán Thẻ Trực Tuyến (không áp dụng với Thẻ nội địa, phí, lệ phí): Nếu Chủ Thẻ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ Số Tiền Đến Hạn vào hoặc trước Ngày Đến Hạn, Chủ Thẻ phải thanh toán lãi cho S đối với tất cả các khoản nợ được thể hiện trong TBGD hiện tại và bất kỳ khoản nợ nào phát sinh sau đó trên Thẻ cho đến khi toàn bộ các khoản nợ đến hạn ghi trong TBGD mới nhất được thanh toán vào hoặc trước Ngày Đến Hạn. Lãi được tính từ ngày Chủ Thẻ thực hiện giao dịch cho đến hết ngày việc thanh toán được thực hiện đầy đủ” và tại mục 23.2 quy định: “S có quyền sửa đổi mức lãi suất trong từng thời kỳ theo quyết định của mình mà không cần thông báo trước cho Chủ Thẻ”. Qua xem xét Quyết định số 2399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S phát hành tại Việt Nam của S có bảng mô tả nội dung thay đổi kèm theo thì mức lãi suất thẻ tín dụng nội địa là 2,6%/tháng và 31,2%/năm. Như vậy, khi thực hiện các hoạt động cấp tín dụng cho bà D thì S có quy định nội bộ về cấp tín dụng qua thẻ tín dụng phù hợp với quy định pháp luật, trong đó quy định cụ thể về đối tượng, hạn mức, điều kiện, thời hạn cấp tín dụng, thời hạn trả nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mức trả nợ tối thiểu và lãi suất áp dụng. Do đó, đến ngày 01/02/2020, vì bà D đã vi phạm thỏa thuận thanh toán nên S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 54.285.503 đồng sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn là có căn cứ.
Theo bản tóm tắt sao kê ngày 17/6/2024 đối với số thẻ 472075-2819 của chủ thẻ Trần Thị D, thì đến ngày 17/6/2024, bà D còn nợ là 132.314.502 (Một trăm ba mươi hai triệu ba trăm mười bốn ngàn năm trăm lẻ hai) đồng, trong đó, nợ gốc là 41.874.503 đồng và lãi quá hạn là 90.439.999 đồng. Như vậy, có cơ sở xác định đến ngày 17/6/2024, bà D còn nợ là 132.314.502 (Một trăm ba mươi hai triệu ba trăm mười bốn ngàn năm trăm lẻ hai) đồng.
Từ những nhận định nói trên, đối với yêu cầu của S buộc bà D phải trả tổng số tiền còn nợ là 132.314.502 (Một trăm ba mươi hai triệu ba trăm mười bốn ngàn năm trăm lẻ hai) đồng, thanh toán làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật và yêu cầu bà D phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 18/6/2024 theo hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi hoàn tất việc trả nợ là có căn cứ, nên chấp nhận.
Bà D đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai, yêu cầu có mặt để tham dự phiên tòa xét xử giải quyết việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với S nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Trần Thị D.
[3] Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của S, buộc bà D phải trả số tiền tính đến ngày 17/6/2024 là 132.314.502 (Một trăm ba mươi hai triệu ba trăm mười bốn ngàn năm trăm lẻ hai) đồng, trong đó, nợ gốc là 41.874.503 đồng và lãi quá hạn là 90.439.999 đồng, thanh toán làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật và yêu cầu bà D phải có trách nhiệm thanh toán tiền lãi phát sinh từ ngày 18/6/2024 cho đến khi hoàn tất việc trả nợ. Xét thấy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân tại phiên Tòa là có căn cứ và cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; khoản 3 Điều 144 và Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì: bà D chịu trách nhiệm trả tiền cho S nên phải chịu án phí trên số tiền phải trả là 132.314.502 đồng.
Số tiền án phí là 132.314.502 đồng x 5% = 6.615.725 đồng. Bà D phải chịu án phí là 6.615.725 đồng.
S không phải chịu án phí DSST. Hoàn trả cho S số tiền tạm ứng án phí là 2.640.000 đồng theo biên lai thu số 0019682 ngày 17/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận BTh, Thành phố H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; Điều 146; Điều 147; Điều 203; Điều 220; Điều 227; Điều 228; Điều 235; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Nghị quyết 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của UBTVQH.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T.
1.1. Buộc bà Trần Thị D có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP T số tiền 132.314.502 (Một trăm ba mươi hai triệu ba trăm mười bốn ngàn năm trăm lẻ hai) đồng, trong đó, nợ gốc là 41.874.503 đồng và lãi quá hạn là 90.439.999 đồng, thanh toán làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Bà Trần Thị D tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/12/2017 đã ký kết giữa bà Trần Thị D với Ngân hàng TMCP T kể từ ngày 18/6/2024 đến khi hoàn tất việc thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP T.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí DSST: Bà Trần Thị D phải chịu số tiền án phí là 6.615.725 (Sáu triệu sáu trăm mười lăm ngàn bảy trăm hai mươi lăm) đồng.
Ngân hàng TMCP T không phải chịu án phí DSST. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP T số tiền tạm ứng án phí là 2.640.000 đồng theo biên lai thu số 0019682 ngày 17/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận BTh, Thành phố H.
3. Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án tại địa phương.
4. Trường hợp quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
(Đã giải thích quy định về quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự).
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thành Th |
Bản án số 338/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 338/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T, THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP T. 1.1. Buộc bà Trần Thị D có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP T số tiền 132.314.502 (Một trăm ba mươi hai triệu ba trăm mười bốn ngàn năm trăm lẻ hai) đồng, trong đó, nợ gốc là 41.874.503 đồng và lãi quá hạn là 90.439.999 đồng, thanh toán làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. 1.2. Bà Trần Thị D tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 11/12/2017 đã ký kết giữa bà Trần Thị D với Ngân hàng TMCP T kể từ ngày 18/6/2024 đến khi hoàn tất việc thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP T. Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền
