Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 338/2024/DS-PT

Ngày: 08-8-2024

V/v: “Tranh chấp lối đi chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến

Các Thẩm phán: Bà Hồ Thị Tuyết Phương

Ông Trương Hoài Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Hồng Phil- Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 08 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm vụ án thụ lý số: 151/2024/TLPT-DS ngày 27 tháng 06 năm 2024 về việc "Tranh chấp lối đi chung".

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 64/2024/DSST ngày 22 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 236/2024/QĐPT-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Chung Lệ K, sinh năm 1955.
  2. Địa chỉ: Số H, đường Đ, phường T, quận N, Thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện hợp pháp: ông Chung Vĩ N, Sinh năm 1967; địa chỉ: Số I, đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (Văn bản ủy quyền ngày 05/7/2024). Có mặt

  3. Ông Chung Vị C, sinh năm 1964.
  4. Ông Chung Vĩ N, sinh năm 1967.
  5. Bà Nguyễn Thị Cẩm X, sinh năm 1961.
  6. Cùng địa chỉ: Số I, đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Các nguyên đơn có mặt

- Bị đơn: Ông Trịnh Nam T, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số I, đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tăng Bích L, sinh năm 1947; Địa chỉ: Số I, đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện hợp pháp của bà L: Ông Trần Thanh L1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số A, đường C, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ (Theo văn bản ủy quyền ngày 06/7/2020). Có mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trịnh Nam T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án các nguyên đơn trình bày:

Ông bà là con của ông Chung V (chết) và bà Ngũ H (chết), khi cha mẹ các nguyên đơn qua đời có để lại di sản thừa kế là căn nhà và đất tọa lạc tại số I, đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Do nhà ở đã lâu năm xuống cấp nghiêm trọng, gia đình các ông bà có nhu cầu đăng ký chủ quyền sử dụng đất để thuận tiện trong việc sửa chữa lại nhà ở. Tuy nhiên, ông Trịnh Nam T (con ruột của bà Tăng Bích L) đứng ra tranh chấp phần hẻm chung và cho rằng đó là hẻm riêng của gia đình ông T.

Thực tế toàn bộ phần quyền sử dụng đất của ông Trịnh Nam T, bao gồm cả phần lối đi chung có nguồn gốc của gia đình các ông bà từ khoảng năm 1950. Sau đó, cha mẹ ông bà đã chuyển nhượng cho người khác, qua nhiều lần chuyển nhượng mới đến ông T. Gia đình ông bà đã sinh sống, sử dụng phần lối đi chung này từ trước đến nay. Khoảng năm 1994 cha mẹ ông bà có làm lại cửa nhà đi ra hẻm chung thì phát sinh tranh chấp với bà Tăng Bích L. Sau đó, Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Cần Thơ (cũ) đã giải quyết bằng Thông báo số 252/NĐ.KP.95 ngày 02/8/1995 xác định đây là hẻm chung giữa bà Tăng Bích L (mẹ ruột ông Trịnh Nam C1) với bà Ngũ H (mẹ ruột các nguyên đơn).

Vì vậy, các ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận phần đường đi giữa nhà số I với I đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ là lối đi chung giữa các hộ và yêu cầu ông Trịnh Nam T chấm dứt hành vi cản trở để nguyên đơn tiến hành việc sửa chữa nhà ở nhằm ổn định đời sống.

- Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, bị đơn ông Trịnh Nam T trình bày:

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Bởi lẽ, phần quyền sử dụng đất 180,8m² bao gồm phần đường đi do cha mẹ ông T là ông Trịnh Hòa T1, bà Tăng Bích L nhận chuyển nhượng từ bà Trần Thị S ngày 25/12/1978. Khi nhận chuyển nhượng bà S bàn giao phần đường đi cho gia đình ông T1, bà L sử dụng, ổn định liên tục cho đến ngày hôm nay. Trong quá trình sử dụng, ông T1, bà L để tiến hành kê khai quyền sử dụng đất, nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật. Đồng thời, khi phát sinh tranh chấp với người khác thì chỉ có gia đình ông T đứng ra giải quyết. Từ trước đến nay rất nhiều lần gia đình ông T tự bỏ tiền ra để nâng cấp đường đi, làm lối thoát nước mới tạo được lối đi như hiện tại. Phần lối đi này gia đình ông T chưa từng đồng ý hiến đất làm đường đi công cộng cũng như không có cản trở việc gia đình nguyên đơn sửa chữa nhà ở.

Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn công nhận toàn bộ diện tích đất 180,8m², thuộc thửa số 27, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại số I, đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Trịnh Nam T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 22/03/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Chung Lệ K, ông Chung Vị C, ông Chung Vĩ N, bà Nguyễn Thị Cẩm X.
  2. Công nhận diện tích đất 23,5m² (ký hiệu (A) theo Bản trích đo địa chính số 173/TTKTTNMT ngày 28/02/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C là lối đi chung giữa nhà số I với I đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Đồng thời, buộc bị đơn ông Trịnh Nam T không được thực hiện các hành vi cản trở việc sử dụng lối đi chung của các nguyên đơn bà Chung Lệ K, ông Chung Vị C, ông Chung Vĩ N, bà Nguyễn Thị Cẩm X (Đính kèm bản trích đo địa chính).

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/04/2024 ông Trịnh Nam T kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà phúc thẩm:

  • Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Trịnh Nam T.
  • Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Bị đơn cho rằng bà L không biết chữ, có thể kêu ký vào phần giáp ranh trong biên bản đo đạc, thẩm định ngày 01/06/2012 thì ký chứ không biết nội dung như thế nào; bị đơn khẳng định lối đi tranh chấp là lối đi riêng của gia đình bị đơn.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn nộp đơn kháng cáo trong thời gian luật định nên xem xét hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung kháng cáo của bị đơn thấy rằng cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá các chứng cứ đương sự cung cấp và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì mới, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Trịnh Nam T làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp lối đi chung” và thẩm quyền giải quyết là đúng quy định khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của bị đơn, nhận thấy:

[2.1] Theo Bản trích đo địa chính số 173/TTKTTNMT ngày 28/02/2024 của Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C thì lối đi chng tranh chấp có diện tích là 23,5m². Các nguyên đơn cho rằng phần lối đi chung này đã được hình thành từ rất lâu đời, có nguồn gốc của gia đình nguyên đơn. Ngược lại, ông T cho rằng phần đất diện tích 180,8m² bao gồm phần đường đi do cha mẹ ông T là ông Trịnh Hòa T1, bà Tăng Bích L nhận chuyển nhượng từ bà Trần Thị S ngày 25/12/1978. Trong quá trình quản lý, sử dụng phía bị đơn đã thực hiện thủ tục đăng ký kê khai trong sổ mục kê, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước trên diện tích 180,8m² cũng như nhiều lần tiến hành nâng cấp phần lối đi này mà không có sự đóng góp của các nguyên đơn. Vì vậy, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

[2.2] Xét thấy, vào năm 1995, phần lối đi giữa bà Ngũ H (mẹ các nguyên đơn) với bà Tăng Bích L (mẹ bị đơn) đã có tranh chấp do bà L không đồng ý cho bà H mở lại cửa sau đi ra hẻm chung. Tại Thông báo giải quyết tranh chấp số 252/NĐ.AP/95 ngày 02/8/1994 của Ủy ban nhân dân phường A có nội dung như sau:

"...Ủy ban nhân dân phường cho phép bà Ngũ H được phép mở lại cửa hông để sử dụng ra hẻm chung giữa 2 hộ 94-96 đường C. Nhưng phải mở cửa vào bên trong và không được để vật cản trên mặt hẻm, để khỏi ảnh hưởng lối đi của hộ bà Tăng Bích L số 96A đường 30/4.

Vì đây là con hẻm chung đã sử dụng trước ngày giải phóng 1975. Do đó bà Tăng Bích L và gia đình không được quyền ngăn cản việc mở cửa lại cửa hông của bà Ngũ H...".

Thông báo số 252 có một số nội dung chưa chính xác về năm ban hành và số nhà đang tranh chấp. Tuy nhiên, tại Công văn số 868/UBND ngày 19/12/2023 của Ủy ban nhân dân phường A đã xác nhận Ủy ban nhân dân phường có ban hành Thông báo số 252 và ngày tháng năm ban hành là ngày 02/8/1995. Đồng thời, Thông báo số 252 có nội dung giải quyết tranh chấp hẻm chung giữa bà Ngũ H với bà Tăng Bích L đối với lối đi vào nhà số I đường C là chính xác. Hơn nữa, tại phiên tòa bị đơn ông Trịnh Nam T cũng thừa nhận trước đây khi bà Ngũ H mở lại cửa sau đã phát sinh tranh chấp với bà Tăng Bích L (mẹ ruột ông) thì Ủy ban nhân dân phường A có ban hành văn bản giải quyết tranh chấp. Do không am hiểu pháp luật nên gia đình ông không có khiếu nại, khởi kiện đối với Thông báo số 252 mà chấp hành cho gia đình bà Ngũ H mở lại cửa sau ra hẻm chung cùng sử dụng đi lại cho đến thời điểm hiện tại.

[2.3] Ngoài ra, Tại Biên bản v/v đo đạc, thẩm định do TAND thành phố Cần Thơ lập ngày 01/6/2012 thể hiện phần đất của gia đình các nguyên đơn tiếp giáp hẻm chung (hiện đang tranh chấp) và đất bà Tăng Bích L (bà L có ký giáp ranh), Bản trích đo địa chính số: 08/TT.KTTN&MT ngày 17/7/2012 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C kèm theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số: 02/2018/QĐST-DS ngày 10/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã thể hiện cụ thể phần lối đi giữa hai nhà 96 và 96A là hẻm chung và gia đình bà Nguyễn Thị Cẩm X hiện tại đang sử dụng đi lại vào nhà ở phía sau của thửa 43.

Từ những nhận định nêu tại phần [2.2] và [2.3], cấp sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp là lối đi chung giữa hai nhà 96 và 96A là có căn cứ. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới nên không có căn cứ chấp nhận.

[2.4] Đối với việc bị đơn yêu cầu giám định chữ ký của bà Tăng Bích L trong Biên bản v/v đo đạc, thẩm định do TAND thành phố Cần Thơ lập ngày 01/6/2012 (Biên bản được Tòa án lập để giải quyết vụ án khác, có bà Tăng Bích L là hộ giáp ranh), xét thấy Biên bản được Tòa án lập theo đúng qui định và từ năm 2012 đến nay không có ai khiếu nại, bị đơn cho rằng bà L không biết chữ, có thể kêu ký giáp ranh thì ký chứ không biết nội dung, do đó việc giám định là không cần thiết, bởi không có căn cứ để xác định bà L không ký vào biên bản, biên bản được Hội đồng đo đạc, thẩm định lập, có đọc lại cho tất cả nghe và đồng ý ký tên.

[3] Về án phí phúc thẩm: ông T kháng cáo nhưng không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm.

[4] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của Ô;

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 64/2024/DS-ST ngày 22 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Chung Lệ K, ông Chung Vị C, ông Chung Vĩ N, bà Nguyễn Thị Cẩm X.
  2. Công nhận diện tích đất 23,5m² (ký hiệu (A) theo Bản trích đo địa chính số 173/TTKTTNMT ngày 28/02/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C là lối đi chung giữa nhà số I với I đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

    Buộc bị đơn ông Trịnh Nam T không được thực hiện các hành vi cản trở việc sử dụng lối đi chung của các nguyên đơn bà Chung Lệ K, ông Chung Vị C, ông Chung Vĩ N, bà Nguyễn Thị Cẩm X (Đính kèm bản trích đo địa chính số 173/TTKTTNMT ngày 28/02/2024).

  3. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn ông Trịnh Nam T phải chịu 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng), mỗi bên nộp tạm ứng 3.000.000 đồng đã chi xong nên bị đơn có nghĩa vụ trả lại các nguyên đơn số tiền 3.000.000đ.
  4. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:
      • - Bị đơn ông Trịnh Nam T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
      • - Nguyên đơn ông Chung Vị C được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0000858 ngày 28/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
      • - Nguyên đơn ông Chung Vĩ N được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0000857 ngày 28/3/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
    2. Về án phí dân sự phúc thẩm:
    3. Ông Trịnh Nam T phải chịu 300.000đ, được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001142 ngày 04/04/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều; ông T đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, và Điều 9; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND-TPCT
  • - TAND Q.Ninh Kiều
  • - Các đương sự
  • - Chi Cục THADS Ninh Kiều
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 338/2024/DS-PT ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp lối đi chung

  • Số bản án: 338/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger