Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 338/2023/HSPT

Ngày: 25-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hợp
Các thẩm phán: Ông Phạm Việt Cường
Ông Nguyễn Tấn Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Hiệp, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và tại điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 311/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Gia H và đồng phạm về tội “Giết người”. Do có kháng cáo của các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2023/HSST-CTN ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Gia H, (tên gọi khác: B), sinh ngày 28/10/2004 (thời điểm phạm tội 17 tuổi 09 tháng 08 ngày), tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi thường trú: Số C P, tổ I, phường Y, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện nay: Số D đường N, tổ C, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1976 và bà Lê Thị Bích P, sinh năm 1980; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 15/11/2022 bị Công an phường P, thành phố P xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi cất giấu dao tự chế; bị bắt tạm giam từ ngày 14/02/2023. Hiện đang bị tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.
  2. Trần Văn T (tên gọi khác: P1), sinh ngày 23/12/2004 (thời điểm phạm tội 17 tuổi 09 tháng 13 ngày), tại tỉnh Kon Tum; nơi thường trú: Tổ B, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum; nơi ở hiện nay: Số C đường N, tổ C, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Minh P2, sinh năm 1978 và bà Trần Thị Mỹ P3 (đã chết); tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật; bị bắt tạm giam từ ngày 14/02/2023. Hiện đang bị tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.
  3. Lê Đình Đ, sinh ngày 22/01/2008 (thời điểm phạm tội 14 tuổi 08 tháng 15 ngày), tại tỉnh Gia Lai; nơi thường trú: Tổ G, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện nay: Số A đường N, tổ C, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình H1, sinh năm 1968 và bà Đặng Thị Q, sinh năm 1971; Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Gia H: Ông Nguyễn Văn D – Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh G. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Đình Đ: Ông Trần Đại H2 – Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh G. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Văn T: Ông Lâm Minh P2, sinh năm 1978; địa chỉ: Số C N, tổ C, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Gia H: Ông Nguyễn Trọng N, sinh năm 1976 và bà Lê Thị Bích P, sinh năm 1980; cùng địa chỉ: Số D N, tổ C, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đình Đ: Ông Lê Đình H1, sinh năm 1968 và bà Đặng Thị Q, sinh năm 1971; cùng địa chỉ: Số A đường N, tổ C, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị hại: Anh Phan Huy N1, sinh ngày 07/4/2008.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Phan Huy N1: Ông Phan Thanh B1 và bà Trần Thị Kim N2 (cha mẹ đẻ); cùng địa chỉ: Số A đường L, tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa Nguyễn Đăng K (sinh năm 2008, trú tại: 106/13 N, tổ D, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, là học sinh lớp 9/2 Trường THCS N4) và Phan Huy N1 (sinh năm 2008, trú tại: 0 L, tổ C, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai, là học sinh lớp 9/4 cùng trường) nảy sinh mâu thuẫn từ việc bạn gái của K là Huỳnh Gia Bảo T1 (sinh năm 2008, học cùng lớp 9/4 với N1) cho rằng bị N1 đánh trên lớp vào buổi sáng ngày 05/10/2022 nên vào tối ngày 05/10/2022 K và N1 đã nhắn tin qua M xúc phạm và thách đố đánh nhau.

Vào khoảng 13 giờ ngày 06/10/2022, Lê Đình Đ (sinh năm 2008, trú tại tổ G, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai) điều khiển xe môtô loại 50CC biển số 81AA-066.36 đến nhà K chở K đi chơi. Khi Đ và K đi ngang qua quán nước trên đường L (đoạn gần trường Trung học phổ thông L2, thành phố P) thì thấy Trần Văn T (tên gọi khác là P1, sinh năm 2004, trú tại: Số C đường N, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai) và Nguyễn Gia H (sinh năm 2004, trú tại: Số D đường N, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai) đang ngồi uống nước ở quán nên K cùng Đ vào ngồi cùng với T và H.

Tại đây, K kể cho T, H, Đ biết mâu thuẫn giữa K và N1. Lúc này, T1 gọi điện thoại cho K nói N1 đang ở quán Trà sữa Maru tại số D đường S, thành phố P và nói K đến gặp N1 để giảng hòa. Nghe vậy, K mượn xe môtô của Đ đi đến quán T2 sữa thì thấy N1 đang uống nước ở đây, thấy K đến thì N1 đi ra nói chuyện và thách K xuống bờ kè suối Hội P4 đánh nhau, K nói N1 đợi ở đó rồi K điều khiển xe môtô đi xuống bờ kè suối Hội P4 lấy một con dao bằng kim loại, lưỡi dao có mũi vát nhọn, cạnh sắc có hình răng cưa dài khoảng 25cm (K nhặt được và giấu dưới chân cầu đường Nguyễn Tri P5 từ trước) dắt vào hông quần bên phải rồi điều khiển xe về chỗ quán nước gần trường Trung học phổ thông L2, K nói cho H, Đ, T biết là N1 đang ở quán Trà sữa nhưng do bên Nguyên có đông người nên K nhờ H, Đ, T đi cùng để đánh N1, nghe K nói vậy thì H, Đ, T đều đồng ý.

Lúc này, K điều khiển xe môtô của Đ chở H, Đ, T ngồi sau đi đến quán T4 ở số D đường S. Khi đến nơi, K dừng xe trước quán, rút dao cầm ở tay phải, còn H, Đ, T theo sau đi vào quán đến nơi N1 cùng nhóm bạn đang ngồi, K dùng tay trái nắm cổ áo của N1 đẩy N1 đi ra trước quán, N1 nắm đầu tóc K và dùng tay đánh lại K nên K dùng dao đâm qua, đâm lại nhiều nhát vào người N1 trúng vào vùng đầu, mặt, vai, lưng. Thấy thế, T và H xông vào dùng tay chân đánh N1, còn Đ cầm mũ bảo hiểm xông vào đánh N1. Trong lúc xô sát đánh nhau thì K vô tình đâm trúng mu bàn tay phải của T nên lưỡi dao gãy rời khỏi cán dao và rơi xuống đất, còn cán dao K bỏ vào túi áo lạnh của mình rồi lên xe môtô do T điều khiển chở K cùng Đ, H ngồi sau bỏ đi. Khi đến ngã ba giữa đường S với đường N thì vết thương ở mu bàn tay của T chảy máu nhiều nên T dừng xe lại lấy khẩu trang quấn vết thương lại để cầm máu và gọi bạn gái là Lữ Yến V (sinh năm 2006, trú tại: Số C đường H, tổ E, phường H, thành phố P, Gia Lai) đến chở đi khâu vết thương ở Bệnh viện thành phố P, còn K tiếp tục điều khiển xe môtô của Đ chở Đ và H ngồi sau đi đến nhà Huỳnh Tấn Đ1 (tên gọi khác: Bột, trú tại: Số A đường L, tổ B, phường T, thành phố P). Khi đi trên đường N, K đã ném cán dao bên đường, ở vị trí nào thì không rõ. Đối với T, sau khi khâu vết thương xong thì T được bạn gái là Lữ Yến V chở đến nhà Huỳnh Tấn Đ1 ngồi nói chuyện với nhóm của K. Lúc sau, tất cả ai đi về nhà nấy ngủ.

Đối với Phan Huy N1 sau khi bị đánh, đâm gây thương tích thì được đưa đi cấp cứu điều trị tại Bệnh viện đa khoa thành phố P, sau đó chuyển đến Bệnh viện Nhi tỉnh G điều trị. Đến ngày 11/10/2022 thì xuất viện.

Sau khi sự việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường. Qua điều tra, ông Vũ Hoàng N3 (sinh năm 1992, là Nhân viên quán T4 ở số D đường S, phường H, thành phố P) giao nộp 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại màu bạc, bị cong vênh, có chiều dài 14,5cm, một đầu mũi vát nhọn, một đầu bằng (vết gãy), chỗ rộng nhất là 2,2cm, cạnh sắc hình răng cưa, trên lưỡi dao có dòng chữ “Chuanghui”; anh Phan Thanh B1 (sinh năm 1983, trú tại: Số B đường L, Tổ C, phường T, thành phố P, là cha của bị hại) đã giao nộp 01 (một) chiếc áo khoác màu đen vải dù, tay dài, có ký hiệu “JCDC-1923A” trên ngực áo bên trái. (trên áo có nhiều vết thủng rách trên ngực, vai, lưng, tay, có 23 vết có kích thước khác nhau, vết dài nhất 6,5cm, vết ngắn nhất 1,5cm, có dính chất màu nâu nghi máu) và 01 (một) chiếc áo sơ mi trắng tay ngắn, trên áo có nhiều vết thủng rách trên ngực, vai, lưng, tay (có 09 vết có kích thước khác nhau, vết dài nhất 2,7 cm, vết ngắn nhất 1,5cm) có dính chất màu nâu nghi máu; Lê Đình Đ nộp 01 (một) mũ bảo hiểm màu trắng (đã qua sử dụng), là vật mà Đ đã dùng để đánh N3 vào ngày 06/10/2022.

Ngày 01/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 403/QĐ-CSHS, về việc trưng cầu Trung tâm giám định pháp y tỉnh G giám định tổn hại sức khỏe của Phan Huy N1, xác định cơ chế hình thành vết thương và vật gây thương tích cho N1. Qua giám định, tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 374/22/TgT ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh G kết luận đối với thương tích của Phan Huy N1 như sau:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định:

  • Một sẹo vết thương phần mềm vùng đỉnh trái.
  • Một sẹo vết thương phần mềm vùng thái dương trái.
  • Một sẹo vết thương phần mềm vùng thái dương trái.
  • Một sẹo vết thương phần mềm vùng thái dương trái phía sau, cách đỉnh vành tai trái 1,5cm về phía sau.
  • Một sẹo vết thương phần mềm mặt sau vành tai phải, sẹo không co kéo vành tai.
  • Một sẹo vết thương phần mềm bờ dưới mi mắt phải.
  • Một sẹo vết thương phần mềm sau đuôi mắt gò má phải.
  • Một sẹo vết thương phần mềm mõm cùng vai trái.
  • Một sẹo vết thương phần mềm bờ ngoài xương bả vai trái.
  • Chấn động não điều trị ổn định.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 15%. Áp dụng phương pháp cộng theo Thông tư 22/2019/TT-BYT.

3. Kết luận khác:

  • Cơ chế hình thành thương tích: Do sự tác động trực tiếp.
  • Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật sắc có mũi nhọn. Do vậy, vật được Cơ quan điều tra Công an thành phố P cung cấp là vật phù hợp có thể gây ra thương tích nêu trên cho ông Phan Huy N1.
  • Tại thời điểm giám định sẹo bờ dưới mi mắt phải, không gây co kéo mi mắt, kết mạc hồng, giác mạc trong, tiền phòng sạch, đồng tử tròn đều 2mm, phản xạ ánh sáng (+), không liệt vận nhãn, võng mạc gai thị không phù, không xuất huyết, kết hợp với các dấu chứng ban đầu khi điều trị tại TTYT thành phố Pleiku và Bệnh viện Nhi tỉnh G chỉ ghi nhận vết thương phần mềm mi mắt phải, không ghi nhận tổn thương bên trong và ngoài nhãn cầu mắt phải. Do vậy, không có cơ sở để áp dụng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do giảm thị lực mắt phải”.

Ngày 26 tháng 02 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 75/QĐ-CSHS, về việc trưng cầu Phỏng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh G giám định dấu vết máu. Qua giám định, tại Bản kết luận giám định số: 238/KL-KTHS ngày 06/3/2023 của Phòng KTHS Công an tỉnh G kết luận như sau:

“1. Trên lưỡi dao bằng kim loại dài 14,5cm, một đầu mũi vát nhọn, một đầu bằng (vết gãy), phần rộng nhất 2,2cm, cạnh sắc có hình răng cưa, trên lưỡi dao có dòng chữ “Chuanghui”, lưỡi dao bị cong vênh gửi giám định: Không phát hiện có máu.

2. Chất màu nâu nghi máu dính trên áo khoác màu đen dài tay bằng vải dài 88cm, phần vai rộng 48cm, tại ngực áo trái có dòng chữ “JCDC-1923A” gửi giám định: là máu người, nhóm máu B.

3. Chất màu nâu nghi máu dính trên áo sơ mi ngắn tay bằng vải màu trắng dài 75cm, phần vai rộng 44cm, gửi giám định: là máu người, nhóm máu B.

4. Mẫu máu trong ống nghiệm bằng nhựa ghi thu máu Phan Huy N1: Nhóm máu B".

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo Nguyễn Đăng K, Trần Văn T, Nguyễn Gia H, Lê Đình Đ và bị hại Phan Huy N1 đã tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường. Hiện gia đình các bị cáo đã bồi thường cho bị hại N1 với số tiền 61.740.000 đồng, bị hại không yêu cầu gì thêm về việc bồi thường.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2023/HSST-CTN ngày 29 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai đã quyết định:

  1. Căn cứ điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; khoản 3 Điều 57; Điều 58; Điều 91; Điều 101; khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, Nguyễn Gia H, Trần Văn T và Lê Đình Đ.
  2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  3. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Về tội danh:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Gia H, Trần Văn T và Lê Đình Đ phạm tội “Giết người”.

3. Về hình phạt:

  • 3.1- Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia H 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/02/2023.
  • 3.2- Xử phạt bị cáo Trần Văn T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/02/2023.
  • 3.3- Xử phạt bị cáo Lê Đình Đ 02 (hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Đăng K, phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/6/2023, bị cáo Trần Văn T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 05/6/2023, bị cáo Nguyễn Gia H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 07/6/2023, bị cáo Lê Đình Đ và người đại diện hợp pháp là bà Đặng Thị Q có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát biểu quan điểm đối với vụ án như sau:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, những người tiến hành và tham gia tố tụng khác đã thực hiện và tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Gia H, Trần Văn T, Lê Đình Đ và người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đình Đ là bà Đặng Thị Q, giữ nguyên Quyết định về hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo trình bày luận cứ bào chữa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo và giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, các ngày 01, 05 và 07 tháng 6 năm 2023, các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Gia H, Lê Đình Đ và bà Đặng Thị Q người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đình Đ có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo đối với bị cáo Đ. Đơn kháng cáo của các bị cáo và đại diện hợp pháp của bị cáo là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm quy kết là đúng, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm đủ cơ sở kết luận:

Xuất phát từ mâu thuẫn giữa bạn gái của Nguyễn Đăng K là Huỳnh Gia B2 Thy với Phan Huy N1 nên khoảng 14 giờ, ngày 06/10/2022, tại quán T4 tại số D đường S, thành phố P, tỉnh Gia Lai, Nguyễn Đăng K dùng dao đâm nhiều nhát vào vùng đầu, mặt, vai, lưng anh N1. Nguyễn Gia H, Trần Văn T xông vào dùng tay chân đánh, còn Lê Đình Đ cầm mũ bảo hiểm đánh vào người N1. Tại thời điểm bị đánh gây thương tích bị hại 14 tuổi 05 tháng 29 ngày.

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 374/22/TgT ngày 11/11/2022 kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể bị hại Phan Huy N1 tại thời điểm giám định là 15% (Mười lăm phần trăm).

Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ, các bị cáo đã có hành vi dùng dao nhọn là hung khí nguy hiểm đâm chém, dùng mũ bảo hiểm và chân tay đánh vào vùng đầu, mặt, vai, lưng là vị trí trọng yếu trên cơ thể của bị hại, có thể dẫn đến hậu quả chết người. Hành vi của các bị cáo là có tính chất côn đồ và tấn công bị hại là người chưa đủ 16 tuổi; Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử và xử phạt các bị cáo Nguyễn Gia H, Trần Văn T và Lê Đình Đ về tội “Giết người” với tình tiết định khung “Giết người dưới 16 tuổi” và “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm b, n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Gia H, Trần Văn T và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Lê Đình Đ và người bà Đặng Thị Q là người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đình Đ:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần áp dụng một hình phạt phù hợp nhăm răn đe và giáo dục đối với các bị cáo. Tuy nhiên, đây là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn. Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, bị hại và đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Nguyên nhân vụ án xảy ra cũng có một phần lỗi của người bị hại và trong vụ án này hậu quả chết người chưa xảy ra nên hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Khi phạm tội bị cáo Lê Đình Đ chưa đủ 16 tuổi (14 năm 8 tháng 14 ngày tuổi); bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Gia H chưa đủ 18 tuổi (T: 17 năm 9 tháng 13 ngày tuổi; H: 17 năm 11 tháng 8 ngày tuổi) nên được áp dụng các quy định tại Điều 91, Điều 101 và khoản 3 Điều 102 của Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt. Bị cáo Nguyễn Gia H có nhân thân xấu, ngày 15/11/2022 bị Công an phường P, thành phố P xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng về hành vi cất giấu dao tự chế. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét nhân thân các bị cáo và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Gia H và Lê Văn T3 mức án 05 năm tù, Lê Đình Đ 02 năm 03 tháng tù là phù hợp, không nặng.

Bị cáo Đ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, mặc dù không có mâu thuẫn gì với bị hại nhưng đã tham gia và trực tiếp dùng mũ bảo hiểm đánh bị hại, hành vi của bị cáo là có tính chất côn đồ. Xét tích chất mức độ phạm tội cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo nên Toà án cấp sơ thẩm không cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đình Đ xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận các nội dung kháng cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm.

[4]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Gia H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định. Bị cáo Lê Đình Đ khi thực hiện hành vi phạm tội dưới 16 tuổi, nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội của được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định còn lại của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Gia H, Trần Văn T, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Lê Đình Đ và bà Đặng Thị Q là đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đình Đ, giữ nguyên quyết định về hình phạt tại Bản án sơ thẩm số 22/2023/HSST-CTN ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Áp dụng điểm b, n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 38; Điều 47, khoản 3 Điều 57; Điều 58; Điều 91; Điều 101; khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Gia H, Trần Văn T và Lê Đình Đ.

  1. Về tội danh:
  2. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Gia H, Trần Văn T và Lê Đình Đ phạm tội “Giết người”.

  3. Về hình phạt:
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Gia H 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/02/2023.
    • - Xử phạt bị cáo Trần Văn T 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/02/2023.
    • - Xử phạt bị cáo Lê Đình Đ 02 (hai) năm 3 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày chấp hành án.
  4. Về án phí:
  5. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, b khoản 2 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc các bị cáo Nguyễn Gia H, Trần Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

    Bị cáo Lê Đình Đ được miễn án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo; không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị và được thi hành theo Quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2023/HSST-CTN ngày 22/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I, TAND tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - TAND Tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND Tỉnh Gia Lai;
  • - Cơ quan CSĐT - Công an Tỉnh Gia Lai;
  • - Phòng HSNV - Công an Tỉnh Gia Lai;
  • - Cơ quan CSTHAHS - Công an Tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh Gia Lai;
  • - Cục THADS Tỉnh Gia Lai;
  • - Trại tạm giam CA Tỉnh Gia Lai;
  • - Bị cáo; Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HSVA, LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Phạm Văn Hợp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 338/2023/HSPT ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG về vụ án hình sự về tội "giết người"

  • Số bản án: 338/2023/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Giết người"
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Gia H, Trần Văn T, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Lê Đình Đ và bà Đặng Thị Q là đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đình Đ, giữ nguyên quyết định về hình phạt tại Bản án sơ thẩm số 22/2023/HSST-CTN ngày 29/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger