Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 337/2024/HS-ST

Ngày: 03/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thiệu Văn Kết Em.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu;
  2. Bà Phạm Thị Thu Yến.

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 370/2024/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 384/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 77/2024/HSST-QĐ ngày 26/11/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Trọng N, sinh năm 1993, tại tỉnh An Giang; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Hồng N1 (đã chết); vợ: Lê Thị Thanh T1; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam 31/7/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.

  2. Phạm Thành K, sinh năm 2001, tại tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp V, xã H, huyện U, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Thành K1 và bà Ngô Thị G; tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị bắt tạm giam 31/7/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Viết H, ông Nguyễn Văn B, ông Nguyễn Hồng D, ông Lê Văn Á, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trọng N và Nguyễn Viết H quen biết nhau ngoài xã hội. H là nhân viên phục vụ của quán ăn B1, địa chỉ: Khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ngày 30/7/2023, N và H xảy ra mâu thuẫn, cự cãi qua lại trên mạng xã hội nên N nảy sinh ý định đánh H để dằn mặt. Thực hiện ý định, khoảng 19 giờ 30 phút ngày 30/7/2023, N gọi điện thoại rủ bạn là Phạm Thành K đi tìm H giải quyết mâu thuẫn thì K đồng ý. N điều khiển xe mô tô biển số 69F1-234.03 mang theo 02 dao tự chế để trong cốp xe đến phòng trọ của K thì gặp thêm bạn của K tên Q, quá trình nói chuyện, Q biết sự việc nên đi theo N và K để xem.

N điều khiển xe mô tô biển số 69F1-234.03 chở K, Q điều khiển xe mô tô không rõ nhãn hiệu, biển số đi một mình. Trên đường đi, N nói cho K biết trong cốp xe có 02 con dao tự chế và dặn K nếu N bị H đánh thì lấy dao ra hỗ trợ N. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, khi đến trước quán B1, N dừng xe mô tô, mở sẵn cốp xe và gọi H ra nói chuyện. Khi H vừa ra đến chỗ của N thì bị N dùng nón bảo hiểm đánh từ trên xuống, H đưa tay phải lên đỡ làm nón bảo hiểm văng ra và dùng tay đánh lại N. Lúc này, K lấy 02 con dao tự chế từ cốp xe của N, chạy lại giúp N đánh H. Thấy K cầm dao, H chạy vào khu vực bếp của quán lấy 01 cây chỉa dài 1,6m (cán gỗ dài 60cm, đầu găn 02 chỉa bằng kim loại màu trắng bạc dài 01m) quay ra đuổi nhóm của N. Thấy H cầm chỉa, K chạy ra đưa cho Q 01 con dao và bỏ chạy ra đường, sau đó thuê xe ôm chở về phòng trọ. Q điều khiển xe mô tô và cầm theo dao tự chế bỏ chạy về hướng thành phố T. H cầm chỉa đuổi theo N trên vỉa hè đường ĐT 743. N chạy vào trong một tiệm bán đồ nhựa thì bị té ngã, H cầm cây chỉa chỉ về phía N hù doạ nhưng không gây thương tích. Sau đó, H cầm chỉa quay lại quán. Thấy N đi từ tiệm đồ nhựa ra, H tiếp tục cầm chĩa đuổi N thì được ông Nguyễn Văn B là chủ quán B2. Thấy H đã vào quán, N quay lại lấy xe mô tô đi về phòng trọ.

Bực tức về việc bị H cầm cây chỉa rượt đuổi nên N lấy tại phòng trọ 01 khẩu súng hiệu Rulo bên trong có 06 viên đạn giấu trong người và điều khiển xe mô tô đến phòng trọ của K. Trên đường đi, N gọi điện thoại nói cho K biết mình có súng và rủ K cùng quay lại tìm H để bắn hù dọa, dằn mặt H thì K đồng ý. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, N điều khiển xe mô tô chở K đi đến bên đường phía đối diện quán B1 thì dừng xe để K cầm lái. N xuống xe, cầm súng trên tay phải và quay mặt vào quán B3 H ra. Không thấy H ra, N cầm súng chỉ xuống đường bắn 01 phát gây tiếng nổ lớn, sau đó lên xe mô tô cùng K rời khỏi hiện trường.

Ngày 01/8/2023, Ủy ban nhân dân phường B có Công văn số 380 về việc đề nghị hỗ trợ xử lý nghiêm vụ gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T thu giữ vật chứng gồm 01 cây chỉa dài 1,6m (cán gỗ dài 0,6m, đầu gắn 02 chỉa bằng kim loại màu trắng bạc dài 01m); 01 khẩu súng dạng Rulo làm bằng kim loại màu đen, trên nòng súng có in dòng chữ SMITH&WESSON, bên trong ổ quay có 06 viên đạn, đầu đạn làm bằng kim loại màu xám; 01 khẩu súng dạng Rulo làm bằng kim loại, màu đen, cán súng được ốp nhựa màu vân gỗ có in dãy số XYL221216117, kiểm tra bên trong ổ quay có 06 viên đạn, đầu đạn làm bằng kim loại màu xám; 01 hộp nhựa bên trong chứa 05 viên đạn, đầu đạn làm bằng kim loại màu xám; 01 hộp nhựa bên trong chứa 12 viên đạn, đầu đạn làm bằng kim loại màu đồng; 02 dao tự chế làm bằng kim loại màu trắng; 03 con dao bấm làm bằng kim loại; 05 ống nhựa hình trụ màu xanh, được bịt kín hai đầu, một đầu có gắn sợi dây tiếp nối; 02 vỏ đạn làm bằng kim loại màu đồng; 02 ống nhựa hình trụ màu xanh, được bịt kín hai đầu, một đầu có gắn sợi dây tiếp nối.

Tại Bản kết luận giám định số: 5537/KL-KTHS ngày 30 tháng 8 năm 2023 của Phân viện Khoa học hình sự - Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • 02 (hai) khẩu súng (Mẫu số 1 và mẫu số 2) gửi giám định là vũ khí được chế tạo thủ công để bắn với loại đạn thể thao cỡ (5,6x15,5) mm. Hiện tại, 02 (hai) khẩu súng bắn được đạn nổ, hai khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng.
  • 29 (hai mươi chín) viên đạn (mẫu số 3, 4, 5 và 6) và 02 (hai) vỏ đạn đã bắn (mẫu số 7) gửi giám định là loại đạn thể thao cỡ (5,6x15,5)mm, không phải là vũ khí quân dụng và sử dụng để bắn được cho 02 (hai) khẩu súng nêu trên.
  • Sử dụng 02 (hai) khẩu súng gửi giám định bắn với loại đạn thể thao cỡ (5,6x15,5)mm trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.

Tại Bản kết luận giám định số 5538/KL-KTHS ngày 13 tháng 9 năm 2023 của P - Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

  • 05 (năm) ống nhựa hình trụ màu xanh, được bịt kín hai đầu, một đầu có gắn một dây cháy (Mẫu số 1) gửi giám định đều là pháo nổ (quả nổ tự tạo), bên trong có chứa thuốc pháo, không phải là vật liệu nổ quân dụng. Khi đốt phát ra tiếng động lớn.
  • 02 (hai) ống nhựa hình trụ màu xanh, được bịt kín hai đầu, một đầu có gắn một dây cháy (Mẫu số 2) gửi giám định đều là pháo nổ (quả nổ tự tạo), bên trong có chứa thuốc pháo, không phải là vật liệu nổ quân dụng. Khi đốt phát ra tiếng động lớn.

Tại Bản cáo trạng số: 107/CT-VKS-TA ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Trọng N, Phạm Thành K về tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 318; s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Điều và Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Trọng N và Phạm Thành K.

Về hình phạt, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo như sau:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Nhân T2 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.

- Xử phạt bị cáo Phạm Thành K từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”

Về xử lý vật chứng: Kiểm sát viên đề nghị:

  • Đối với hành vi sử dụng súng và cất giấu 02 khẩu súng có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng của Nguyễn Trọng N. Ngày 27/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển nguồn tin trên cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B giải quyết theo thẩm quyền.
  • Đối với hành vi cất giấu 07 ống nhựa hình trụ màu xanh là pháo nổ có tổng trọng lượng là 0,210kg của Nguyễn Trọng N và Phạm Thành K. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N và K về hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ.
  • Đối với đối tượng tên Q có hành vi giúp sức cho N và K đánh H nhưng chưa kịp thực hiện thì bỏ chạy khỏi hiện trường. Quá trình điều tra chưa xác định được lai lịch, địa chỉ của Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh và xử lý sau.
  • Đối với Nguyễn Viết H có hành vi sử dụng 01 cây chỉa dài 1,6m rượt đuổi Nguyễn Trọng N. Quá trình điều tra xác định, hành vi của H là phòng vệ chính đáng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không xử lý.
  • Đối với 01 khẩu súng dạng Rulo làm bằng kim loại màu đen, trên nòng súng có in dòng chữ SMITH&WESSON; 01 khẩu súng dạng Rulo làm bằng kim loại, màu đen, cán súng được ốp nhựa màu vân gỗ có in dãy số XYL221216117; 29 viên đạn (kích thước 5,6mm x 15,5mm); 02 vỏ đạn làm bằng kim loại màu đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda, số loại: Airblade, biển số: 69F1-235.03 là vật chứng liên quan đến hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển các vật chứng trên cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B là có căn cứ.
  • Đối với 07 ống nhựa hình trụ màu xanh là pháo nổ có tổng trọng lượng là 0,210kg. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã xử lý cùng với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Trọng N và Phạm Thành K.
  • Đối với 01 cây chỉa dài 1,6m (cán gỗ dài 0,6m, đầu gắn 02 chỉa bằng kim loại màu trắng bạc dài 01m); 02 dao tự chế làm bằng kim loại màu trắng; 03 con dao bấm làm bằng kim loại. Quá trình điều tra xác định, các vật chứng trên là hung khí nguy hiểm nên Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
  • Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác định nội dung Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố là đúng hành vi các bị cáo đã thực hiện. Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, vật chứng thu giữ và lời khai người làm chứng; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 19 giờ 50 phút đến 20 giờ 50 phút, ngày 30/7/2023, tại khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nguyễn Trọng N và Phạm Thành K đã dùng nón bảo hiểm và dao tự chế đuổi đánh Nguyễn Viết H và sử dụng 01 khẩu súng dạng Rulo bắn gây tiếng nổ lớn, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang lo sợ cho người dân tai nơi xảy ra vụ việc thì bị phát hiện bắt giữ.

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, do đó cần phải xử phạt các bị cáo mức án phù hợp với hành vi mà các bị cáo đã thực hiện nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Trong vụ án có vai trò đồng phạm tuy nhiên chỉ ở mức đồng phạm giản đơn, không có sự phân công cụ thể vai trò của từng bị cáo nên khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến vị trí, vai trò và hành vi của mỗi bị cáo để có mức hình phạt phù hợp.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 khẩu súng dạng Rulo làm bằng kim loại màu đen, trên nòng súng có in dòng chữ SMITH&WESSON; 01 khẩu súng dạng Rulo làm bằng kim loại, màu đen, cán súng được ốp nhựa màu vân gỗ có in dãy số XYL221216117; 29 viên đạn (kích thước 5,6mm x 15,5mm); 02 vỏ đạn làm bằng kim loại màu đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu: Honda, số loại: Airblade, biển số: 69F1-235.03 là vật chứng liên quan đến hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển các vật chứng trên cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B là phù hợp.
  • Đối với 07 ống nhựa hình trụ màu xanh là pháo nổ có tổng trọng lượng là 0,210kg. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã xử lý cùng với quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Trọng N và Phạm Thành K là phù hợp;
  • Đối với 01 cây chỉa dài 1,6m (cán gỗ dài 0,6m, đầu gắn 02 chỉa bằng kim loại màu trắng bạc dài 01m); 02 dao tự chế làm bằng kim loại màu trắng; 03 con dao bấm làm bằng kim loại. Quá trình điều tra xác định, các vật chứng trên là hung khí nguy hiểm nên Kiểm sát viên đề nghị tịch thu tiêu hủy là đúng;

[8] Đối với đối tượng tên Q hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ các đối tượng. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T sẽ tiếp tục điều tra xác minh và xử lý sau.

[9] Đối với hành vi sử dụng súng và cất giấu 02 khẩu súng có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng của các bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã chuyển nguồn tin trên cho Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B giải quyết theo thẩm quyền là đúng.

[10] Sau khi Toà án thụ lý hồ sơ vụ án đã trả hồ sơ để yêu cầu cơ quan điều tra làm rõ hành vi của Nguyễn Viết H. Tuy nhiên, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm nên Toà án tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự.

[12] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 38, Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
  • Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 – 12 – 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trọng N và Phạm Thành K phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

1.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2023.

1.2. Xử phạt bị cáo Phạm Thành K 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/7/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 cây chỉa dài 1,6m (cán gỗ dài 0,6m, một đầu gắn 02 chỉa bằng kim loại màu trắng bạc dài 01m); 02 dao tự chế làm bằng kim loại màu trắng; 03 con dao bấm làm bằng kim loại màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/4/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND TP.Thuận An;
  • - Chi cục THADS TP.Thuận An;
  • - Công an TP.Thuận An;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thiệu Văn Kết Em

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 337/2024/HS-ST ngày 03/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 337/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng Nhân và đp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger