|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – T – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 337/2024/HSST Ngày: 04/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phú
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim C
Bà Vương Thị Khánh L
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn T - Thư ký TAND Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:
Ông Mai Văn H - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 04 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 330/2024/HSST ngày 07 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 337/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024;
1. Họ và tên: Nguyễn Vũ Đức T1, sinh năm 2002 tại Khánh Hòa.
- Nơi ĐKTT: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
- Nơi ở hiện nay: Tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Nghề nghiệp: Thợ sơn. Chức vụ: Không.Trình độ học vấn: Lớp 7/12 ; dân tộc Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L1, sinh năm 1973 (còn sống) và bà: Vũ Uyên T2, sinh năm 1974 (còn sống); gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 24/02/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.
2. Họ và tên : Nguyễn Minh H1, sinh năm 1988 tại Đồng Nai.
- Nơi ĐKTT: Khu phố A, phường T thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Nơi ở: khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
Nghề nghiệp: Không; chức vụ: Không; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H2, sinh năm 1967 (còn sống) và bà: Nguyễn Thị P, sinh năm 1969 (còn sống) ; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất và chưa có vợ Phạm Thị L2, sinh năm 1996 và 01 con sinh năm 2015;
Tiền án: Ngày 12/9/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 01 năm 02 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. (Bản án số 389/2022/HS-ST ngày 12/9/2022). Ngày 10/5/2023, H1 chấp hành xong hình phạt tù.
Nhân thân: Ngày 17/01/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 07 tháng tù về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. (Bản án số 38/2011/HSST ngày 17/01/2011).
Ngày 24/01/2011, H1 chấp hành xong bản án.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 25/02/2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.
(Hai bị cáo có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau
a)Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Khoảng 17 giờ ngày 24/02/2024, T1 đến phòng trọ của H1 tại tổ B, khu phố C, phường T, thành phố B chơi. Tại đây, T1 gặp và cầm cố cho T3 (chưa rõ lai lịch) 01 điện thoại di động Iphone 6S của T1 với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). T3 không biết T1 cầm cố điện thoại để lấy tiền mua ma túy nên đã nhận cầm và chuyển cho T1 số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Sau đó T3 để điện thoại nêu trên tại phòng trọ của H1 và bỏ đi đâu không rõ. Lúc này tại phòng trọ còn lại T1 và H1, T1 nhờ H1 gọi điện cho đối tượng tên L3 (chưa rõ lai lịch) hỏi mua ma túy, Hòa đồng ý. Sau đó, H1 sử dụng điện thoại có số sim 0896.689.xxx gọi điện thoại cho L3 qua số sim 0973.799.288 hỏi mua 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá) với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), L3 đồng ý và hẹn đến khu vực bờ kè thuộc khu phố B, phường T, thành phố B để giao dịch. T1 lấy điện thoại của T1 đã cầm cố cho T3 (đang sạc điện trong phòng trọ của H1) để đăng nhập vào tài khoản ngân hàng của T1 và chuyển khoản cho L3 số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) qua số tài khoản 0973799288 Ngân hàng V. Sau đó, T1 chạy xe mô tô biển số 60F1-015.59 đến điểm hẹn trên gặp L3 và nhận 01 gói ma túy tổng hợp (hàng đá). Khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, T1 cất giấu gói ma túy vừa mua vào trong túi quần trước bên trái T1 đang mặc và điều khiển xe mô tô biển số 60F1-015.59 đến khu vực ngã ba cầu Đ thuộc tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an phường T, thành phố B kiểm tra phát hiện, bắt quả tang. Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý. Quá trình điều tra, Nguyễn Vũ Đức T1 và Nguyễn Minh H1 khai nhận hành vi phạm tội như trên.
- Vật chứng vụ án:
- + 01 gói nylon hàn kín chứa chất màu trắng được niêm phong có chữ ký của Nguyễn Vũ Đức T1 và hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường T, thành phố B.
- + 01 điện thoại di động Iphone 6S của Nguyễn Vũ Đức T1 sử dụng vào việc phạm tội.
- + 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh của Nguyễn Minh H1 sử dụng vào việc phạm tội.
- + 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60F1-015.59 do chị Vũ Uyên T2 là chủ sở hữu. Chị T2 cho Nguyễn Vũ Đức T1 mượn xe nhưng không biết T1 sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho chị T2.
*Tại Kết luận giám định số 407/KL ngày 29/02/2024 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1615gam, loại Methamphetamine.
Tại Bản cáo trạng số 319/CT-VKSBH ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân TP. Biên Hòa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Vũ Đức Thiện, Nguyễn Minh Hòa, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như cáo trạng đã thể hiện, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c, khoản 1, điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Đức T1 với mức án từ 01 (một) 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H1 với mức án từ 01 (một) 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về việc truy tố của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Xét thấy, lời khai nhận tội của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay là thống nhất, phù hợp với lời khai của người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.
Do vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 24/02/2024, tại tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Vũ Đức T1 và Nguyễn Minh H1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,1615gam ma túy, loại Methamphetamine thì bị Công an phường T, thành phố B kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Có chữ ký Nguyễn Vũ Đức T1 người thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, Nguyễn Minh H1 là người giúp sức cho Nguyễn Vũ Đức T1 thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại Bản kết luận giám định số số 407/KL ngày 29/02/2024 của Giám định viên Phòng K Công an tỉnh Đ, kết luận: Mẫu chất màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1615gam, loại Methamphetamine.
Các bị cáo đồng ý với kết luận định giá và không khiếu nại thắc mắc gì.
Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo truy tố bị cáo Nguyễn Vũ Đức T1 và Nguyễn Minh H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng căn cứ pháp luật.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Nguyễn Vũ Đức T1 chưa có tiền án, tiền sự đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Minh H1 có một tiền án chưa xóa án tích nên phạm vào tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về quyết định hình phạt:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách của nhà nước về độc quyền quản lý các chất ma túy, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[6] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định;
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động Iphone 6S của Nguyễn Vũ Đức T1 sử dụng vào việc phạm tội.
- + 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh của Nguyễn Minh H1 sử dụng vào việc phạm tội.
- Đối với 01(một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 60F1-015.59 do chị Vũ Uyên T2 là chủ sở hữu. Chị T2 cho Nguyễn Vũ Đức T1 mượn xe nhưng không biết T1 sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho chị T2 là phù hợp.
[7] Án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng tên L3 (Chưa rõ lai lịch) có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Vũ Đức T1, kết qua điều tra chưa chứng minh được lai lịch và hành vi của L3 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Đối với đối tượng tên T3 (Chưa rõ lai lịch) có hành vi nhận cầm cố 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S của Nguyễn Vũ Đức T1, T3 không biết T1 cầm điện thoại để lấy tiền mua ma túy và chưa xác định được lai lịch của T3 nên không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Vũ Đức T1;
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Minh H1.
Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với cả hai bị cáo;
[1] Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Vũ Đức T1, Nguyễn Minh H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Vũ Đức T1 01(một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh H1 01(một) năm 02(hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2024.
[3]Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định (Gói niêm phong số 407 ngày 29/02/2024 của phòng K công an tỉnh Đ).
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động Iphone 6S cũ, màu vàng, số Imei 355689077831551.
- + 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu xanh, số Imei 358989090150550.
(Tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa).
[5] Án phí HSST:
- Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.
Các Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST (Hai trăm nghìn đồng).
[6]Quyền kháng cáo:
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
* Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị P1 |
Bản án số 337/2024/HSST ngày 04/07/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 337/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Vũ Đức Thiện + ĐP phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
