Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HAI BÀ TRƯNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 337/2024/HSST

Ngày: 29/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Vũ Vương
  2. Ông Đặng Trần Phan

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Lan Anh- Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng tham gia phiên tòa: Bà Vi Thị Hương - Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 318/2024/HSST ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Bạch Hồng H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1990; tại: Hà Nội; HKTT và nơi ở: Số A ngách A phố H, phường Q, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không ; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Bạch Hồng H1; Con bà: Cù Thị N; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 26/02/2008, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về Tội Cướp giật tài sản, thời gian thử thách 22 tháng kể từ ngày tuyên án (đã xóa).

D chỉ bản số 499 ngày 10/9/2024 do Công an quận H lập; hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.

Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

  1. Anh Trần Ngọc Tuấn A, sinh năm 1986
  2. Nơi ở hiện nay: Số G phố V, phường L, quận B, thành phố Hà Nội.

    Có mặt tại phiên tòa.

  3. Đặng Thanh T, sinh năm 1983

Nơi ở hiện nay: Số B phố L, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.

Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án quá trình điều tra, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân không có nghề nghiệp, cần tiền tiêu sài cá nhân nên Bạch Hồng H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2023 đến tháng 06/2023, Bạch Hồng H đã giả danh là cán bộ công an nhân dân công tác tại phòng C - Công an thành phố H (địa chỉ số G T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội) và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Đặng Thanh T và anh Trần Ngọc Tuấn A. Việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản diễn tra tại số F phố T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội. Cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Tháng 02/2023, anh Đặng Thanh T quen biết Bạch Hồng H, trong quá trình nói chuyện, H giới thiệu bản thân là cán bộ Công an đang công tác Phòng C – Công an thành phố H tại số G T. Đến tháng 04/2023, H nói với anh T cơ quan H đang thanh lý xe máy Honda Wave không dùng đến với giá 3.215.000đ/chiếc, lệ phí làm giấy tờ xe là 225.000đ/xe, nếu có nhu cầu mua thì H sẽ mua giúp và khẳng định xe có giấy tờ hợp pháp do chính cơ quan H cấp. Anh T1 đồng ý, H yêu cầu phải chuyển tiền trước khi mua xe. Do tin tưởng H là cán bộ công an nên anh T1 đã đồng ý và đặt mua 02 xe máy thanh lý, sau đó anh T1 đưa cho H tổng số tiền là 6.880.000₫ tại số F T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội. Cụ thể:

  • + Ngày 15/4/2023, anh T1 đưa cho H 3.215.000đ tiền mặt (không có giấy tờ).
  • + Ngày 18/4/2023, ngày 08/05/2023, anh T1 sử dụng tài khoản ngân hàng số 0810103056666 tại Ngân hàng M chuyển đến số tài khoản số [...] mang tên Bạch Hồng H tại Ngân hàng V số tiền lần lượt là 3.215.000 đ và 450.000đ.

Sau khi nhận tiền, H hẹn khoảng 15-20 ngày sau sẽ giao xe nhưng H không thực hiện mà chiếm đoạt số tiền trên và tiêu sài cá nhân hết, đến nay vẫn chưa trả lại tiền cho anh T1.

Tài liệu tạm giữ của anh T1: 01 (một) sao kê chuyển khoản nêu trên và 01 (một) tập tài liệu tin nhắn giữa anh T1 và H thể hiện nội dung mua bán xe máy Honda Wave.

Vụ thứ hai: Tháng 02/2023, anh Trần Ngọc Tuấn A quen biết với Bạch Hồng H, H giới thiệu mình là cán bộ công an, công tác tại Phòng C – Công an thành phố H. Do cần tiền tiêu sài, H nhiều lần vay tiền anh Tuấn A và nói với Tuấn A dùng tiền để lo chi phí đi lại, giải quyết các vụ án mà H đang thụ lý: cần tiền để đi công tác, đi bắt giữ, dẫn giải tội phạm... và hứa sẽ thanh quyết toán kinh phí với cơ quan để trả cho Tuấn A sau mỗi lần công tác, thi thoảng H sẽ cho anh Tuấn A xem những tin nhắn liên quan đến việc H đi làm nhiệm vụ để tạo niềm tin. Đến ngày 20/04/2023, anh

Tuấn A đã cho H vay tổng số tiền là 58.765.000 đồng. Anh Tuấn A1 sử dụng tài khoản 0970429263458668 tại Ngân hàng M và tài khoản 352064922708 tại Ngân hàng S mang tên Trần Ngọc Tuấn A để thực hiện việc chuyển tiền cho H vay vào 02 tài khoản của H là 1223761472 tại Ngân hàng V1 và 020093311788 tại Ngân hàng S mang tên Bạch Hồng H (ngày 27/02/2024 chuyển khoản 3.400.000 đồng; ngày 11/03/2023 chuyển 1.500.000 đồng; ngày 12/03/2023 chuyển 1.500.000 đồng; ngày 15/03/2023 chuyển 20.000.000 đồng; ngày 17/03/2023 chuyển 10.000.000 đồng; ngày 20/03/2023 chuyển 150.000 đồng; ngày 29/03/2023 chuyển 1.000.000 đồng; ngày 13/04/2023 chuyển 15.000.000 đồng; ngày 20/04/2023 đưa tiền mặt 6.215.000 đồng). Anh Tuấn A1 nhiều lần yêu cầu H trả tiền nhưng H hứa hẹn nhưng không thực hiện. Lúc này, để kéo dài, H nói sẽ mua cho anh Tuấn A1 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda SH trị giá 20.000.000đ và 01 xe máy nhãn hiệu Airblade giá 6.000.000₫ (là xe Cơ quan H thanh lý) để khấu trừ vào số tiền nợ rồi tiếp tục vay tiền của anh Tuấn A1. Do tin tưởng nên anh Tuấn A1 vẫn cho H thêm số tiền 40.170.000 đồng (ngày 10/05/2023 chuyển 100.000 đồng; ngày 11/05/204 chuyển 450.000.000 đồng; ngày 24/05/2024 đưa 20.000.000 đồng tiền mặt; ngày 27/05/2024 chuyển 1.500.000 đồng; ngày 05/06/2023 chuyển 4.000.000 đồng; ngày 09/06/2023 chuyển 7.000.000 đồng và đưa 7.000.000 đồng tiền mặt; ngày 20/06/2024 chuyển 120.000 đồng).

Tính đến ngày 20/6/2023, anh Tuấn A1 cho H vay tổng số tiền 98.935.000 đồng (trong đó chuyển vào tài khoản ngân hàng của H số tiền 65.720.000 đồng, còn 33.215.000 đồng đưa tiền mặt (không lập giấy tờ)) tại số F T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội.

Sau khi nhận được tiền của anh Tuấn A1, H đã ăn tiêu cá nhân hết và hiện vẫn chưa trả lại tiền cho anh Tuấn A1.

Tài liệu tạm giữ của anh Tuấn A1: 01 (một) sao kê mà anh Tuấn A1 chuyển khoản tiền cho H vay, các nội dung tin nhắn giữa H và Tuấn A1 thể hiện nội dung đã khai như trên.

Tại cơ quan điều tra, người bị hại anh Đặng Thanh T và anh Trần Ngọc Tuấn A trình bày nội dung vụ việc như trên, đề nghị xử lý Bạch Hồng H theo quy định của pháp luật. Anh Đặng Thanh T yêu cầu H trả lại số tiền 6.880.000 đồng; Trần Ngọc Tuấn A yêu cầu H phải trả lại số tiền là 98.935.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Bạch Hồng H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bản thân không làm trong cơ quan nhà nước, không phải là cán bộ công an. H nhận thức được mình giả danh cán bộ công an để đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật.

* Kết quả xác minh tại Phòng C – Công an thành phố H : Tại Phòng Cảnh sát hình sự – Công an thành phố H không có cán bộ, chiến sĩ nào tên Bạch Hồng H công tác và làm việc.

Tại bản cáo trạng số 286/CT/VKS-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội truy tố Bạch Hồng H về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ phạm tội, nhân thân của bị cáo và vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS, xử phạt Bạch Hồng H từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo phải bồi thường cho người bị hại theo quy định.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và xin giảm nhẹ hình phạt.

Những người bị hại đề nghị xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và buộc bị cáo phải bồi thường số tiền chưa thanh toán.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai người bị hại, và các chứng cứ tại liệu có trong hồ sơ, có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 02/2023 đến tháng 6/2023, tại số F phố T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội, Bạch Hồng H đã giả danh là cán bộ C - Công an thành phố H, hứa hẹn mua xe máy thanh lý của cơ quan công an và chiếm đoạt của anh Đặng Thanh T số tiền 6.880.000 đồng, lừa dối anh Trần Ngọc Tuấn A đang làm nhiệm vụ nên vay anh Tuấn A 98.935.000 đồng mục đích để chiếm đoạt, ăn tiêu cá nhân. Tổng số tiền H chiếm đoạt là 105.815.000 đồng.

Hành vi của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo không phải là cán bộ công an, nhưng đã gian dối làm người bị hại tin tưởng giao tài sản và bị cáo đã chiếm đoạt chi tiêu cá nhân. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử về hành vi Cướp giật tài sản, nhưng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Bạch Hồng H đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS. Viện kiểm sát nhân

dân quận Hai Bà Trưng truy tố bị cáo như nội dung cáo trạng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội nhiều lần theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra,bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 174, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi năm 2017 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng...”; Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có thu nhập, nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về bồi thường thiệt hại: Anh Đặng Thanh T yêu cầu bồi thường số tiền 6.880.000 đồng, anh Tuấn A yêu cầu bồi thường 98.935.000 đồng. Đó là số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của những người bị hại nên buộc bị cáo phải bồi thường trả lại anh T số tiền 6.880.000 đồng và anh Tuấn A số tiền 98.935.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: không

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Bạch Hồng H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bạch Hồng H 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 46, Điều 48 Bộ luật Hình sự.

Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Đặng Thanh T số tiền 6.880.000 đồng (sáu triệu tám trăm tám mươi ngàn đồng) và bồi thường cho anh Trần Ngọc Tuấn A số tiền 98.950.000 đồng (chín mưới tám triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng).

Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc

Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.290.000 đồng (năm triệu hai trăm chín mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:

Bị cáo, những người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Viện kiểm sát quận Hai Bà Trưng;
  • - Công an quận Hai Bà Trưng;
  • - Lưu hồ sơ

TM.Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Lương Thị Thu Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 337/2024/HSST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 337/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TD: Lừa đảo chiếm đoạt TS XP: 05 năm tù AP: Điểm c khoản 2 điều 174 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger