Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NAM TỪ LIÊM

———————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 337/2024/HS - ST

Ngày: 27/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Sơn – Giáo viên

Ông Đoàn Văn Minh

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Liên - Thư ký Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Ông Lương Duy Bằng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 288/HSST ngày 01/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 314/2024/QĐXXST – HS ngày 8 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Quốc A Sinh năm: 2001. Tên gọi khác: không. Nơi thường trú: Thôn P, xã C, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Trình độ học vấn: 9/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: kinh Tôn giáo: Không. Con ông: Trần Văn H. Con bà: Vũ Thị N; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024. Hiện tại bị giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. Số giam: 3896E2/B19.

2. Vũ Anh T sinh ngày 25/9/2007. (Khi phạm tội 16 năm 9 tháng 25 ngày). Tên gọi khác: không. Nơi thường trú: TDP M, thị trấn Y, huyện Y, Tuyên Quang. Trình độ học vấn: 11/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: kinh Tôn giáo: Không. Con ông: Vũ Ngọc T1. Con bà: Phạm Thị H1; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con út. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 16/8/2024. Hiện tại bị giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Số giam: 4374E2/B9.

3. Nguyễn Phạm Phú Q sinh năm: 2005. Tên gọi khác: không. Nơi thường trú: TDP T, thị trấn Y, huyện Y, Tuyên Quang. Trình độ học vấn: 12/12 Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc: kinh tôn giáo: Không. Con ông: Nguyễn Viết Q1. Con bà: Phạm Minh N1; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 21/8/2024. Hiện tại bị giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Số giam: 4422E2/B22.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vũ Anh T: bà Phạm Thị H1 sinh năm 1968 – mẹ đẻ bị cáo Vũ Anh T. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Vũ Anh T: bà Nguyễn Thị Thanh X sinh năm 1985 – Trợ giúp viên pháp lý chi nhánh S4 – Trung tâm trợ giúp pháp lý thành phố Hà Nội. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h45 phút ngày 21/7/2024, tổ công tác Công an phường X làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư đường Đ giao với đường T, phường M, quận N, Hà Nội phát hiện Trần Quốc A có biểu hiện nghi vấn bán trái phép chất ma túy đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra thu giữ trong túi áo khoác bên phải của Quốc A có 01 túi nilon bên trong có 17 túi nilon màu trắng trong chứa thảo mộc khô. Tại chỗ Quốc A khai số thảo mộc khô là ma túy “tobaco” Quốc A đang mang đi bán cho khách. Tại thời điểm kiểm tra phát hiện Ma Thị Huyền L (sinh ngày 07/6/2006, HKTT: xã L, huyện Y, Tuyên Quang) là bạn của Quốc A đang đứng gần đó. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang dẫn giải Quốc A và L về cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận N điều tra để làm rõ.

Qua đấu tranh, Trần Quốc A khai nhận nguồn gốc số ma túy “tobaco” bị thu giữ là Quốc A góp chung tiền với Nguyễn Phạm Phú Q và Vũ Anh T mua về để bán lại cho khách kiếm lời. Ngày 16/8/2024 và ngày 21/8/2024, Vũ Anh T, Nguyễn Phạm Phú Q đến cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận N đầu thú.

Vật chứng thu giữ:

  1. Thu của Trần Quốc A
    • 17 túi nilon màu trắng kích thước 4x7cm bên trong chứa thảo mộc khô; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vario màu trắng BKS: 22B2 - 733.83; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 promax màu xanh gắn sim số: 0877.663.000.
  2. Thu giữ của Ma Thị Huyền L
    • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro max. (BL: 108A)

Tại Kết luận giám định số 5464 ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Phòng K1 - Công an thành phố H kết luận: 17 túi nilon màu trắng đều có ma túy loại MDMB-4en-PINACA và ma túy loại MDMB-FUBINACA, tổng khối lượng: 49,158 gam (BL: 113).

Quá trình điều tra ban đầu xác định:

Khoảng đầu tháng 6/2024 và giữa tháng 7/2024, Vũ Anh T, Nguyễn Phạm Phú Q và Trần Quốc A từ Tuyên Quang xuống Hà Nội để xin việc. Q và Quốc A đến phòng trọ của vợ chồng Ma Thị Huyền L tại P401 số 15C ngách F, M, N, Hà Nội xin ở nhờ. Do T thỉnh thoảng qua phòng trọ của L chơi nên quen biết với Q và Quốc A. Do chưa tìm được việc làm nên Quốc A bàn bạc rủ Q và T góp chung tiền tìm mua ma túy “tobaco” về để bán lại kiếm lời, Q và T đồng ý. Cả ba thống nhất lợi nhuận thu được sẽ chia mỗi người 30%, còn lại 10% sẽ để tiếp tục mua ma túy về bán. Sau khi thống nhất, T lập một tài khoản Facebook “Bốp Bốp” để cả ba cùng sử dụng đăng bài bán ma túy còn Quốc A lên mạng xã hội Facebook vào nhóm “T3” tìm người bán ma túy. Ngày 19/7/2024, Quốc A liên hệ với một tài khoản Zalo “Đầu nguồn” của một nam thanh niên không quen biết sử dụng số điện thoại 0397.706.xxx đặt mua 100 gam ma túy “Tobaco” với giá 1.800.000 đồng. Do không có đủ tiền nên Q và T góp mỗi người 500.000 đồng còn Quốc A góp 800.000 đồng. Sau đó, Quốc A sử dụng tại khoản ngân hàng số 1037435481 mang tên Trần Quốc A mở tại ngân hàng V chuyển số tiền 1.800.000 đồng đến đến tài khoản số 07298710901 mang tên Le Tien S1 mở tại ngân hàng T4 để mua ma túy. Khoảng 14h00 ngày 20/7/2024, Quốc A nhận được 01 hộp bìa catton từ một người “shipper” rồi thanh toán cho người này số tiền 50.000 đồng. Quốc A mang số ma túy mua được về phòng trọ của L cất giấu rồi gọi T đến. Tại đây, Quốc A, T, Quyền chia số ma túy mua được ra thành 24 túi nhỏ. Trong quá trình chia ma túy, L thấy thảo mộc khô nên hỏi Quốc A là cái gì thì Quốc A bảo thuốc lào nên L không hỏi thêm gì nữa. Chia được ma túy, T sử dụng tài khoản Facebook “Bốp Bốp” đăng bài bán “tobaco”. Sau khi đăng bài bán ma túy vào ngày 20/7/2024, Q và Quốc A cùng nhau mang đi bán cho 01 nam thanh niên không quen biết 02 gói ma túy “tobaco” với giá 400.000 đồng. Riêng Quốc A còn tiếp tục bán thêm được 01 gói ma túy “tobaco” cho một nam thanh niên với giá 200.000 đồng và T bán được 04 gói ma túy “tobaco” cho khách với giá 800.000 đồng nhưng Q, Quốc A và T không nhớ địa chỉ cụ thể nơi bán ma túy cho khách.

Khoảng 11h45 phút ngày 21/7/2024, khi Quốc A đang ở phòng trọ thì nhận được tin nhắn từ tài khoản Facebook “Tùng N2” nhắn tin đến tài khoản Facebook “Bốp bốp” hỏi mua 04 gói ma túy “tobaco”. Quốc A thỏa thuận giá là 400.000 đồng và 70.000 đồng tiền “ship” thì người này đồng ý và hẹn Quốc A mang ma túy đến khu vực ngã tư đường Đ giao với đường T, phường M, quận N, Hà Nội. Quốc A cất 17 gói ma túy “tobaco” vào trong túi áo khoác rồi rủ Ma Thị Huyền L đi ăn trưa. Sau đó, Quốc A điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vario màu trắng BKS: 22B2 - 733.83 chở L. Khi đến khu vực ngã tư đường Đ giao với dường Trần Văn L1 thì Quốc A bảo L đứng bên này đường đợi còn Quốc A đi sang bên kia đường gặp người hỏi mua ma túy. Khi Quốc A đang đứng chờ người mua ma túy đến thì bị lực lượng công an kiểm tra bắt giữ.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Quốc A sử dụng số điện thoại 0397.706.xxx. Quá trình điều tra xác định số điện thoại trên đăng ký mang tên chị Trần Thị O (sinh năm 1981, HKTT: Y, Đ, Thái Nguyên). Quá trình điều tra xác định chị O không đăng ký và không sử dụng số điện thoại trên nên cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ và xử lý.

Đối với số tài khoản 07298710901 mang tên Le Tien S1 mở tại ngân hàng T4. Quá trình điều tra xác định chủ tài khoản là Lê Tiến S2 (sinh năm 1984, HKTT: TỔ A, phường L, quận H, Hà Nội). Tiến hành xác minh tại phường L, H, Hà Nội xác định hiện S2 không có mặt tại nơi cư trú. Ngày 11/10/2024, cơ quan điều tra đã ra quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan đến Lê Tiến S2 để làm rõ và xử lý sau.

Đối với Ma Thị Huyền L: Quá trình điều tra xác định L không biết và không tham gia vào việc Quốc A, Q và T bán ma túy nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với L. Ngày 22/7/2024, cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả cho Ma Thị Huyền L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Pro max. Sau khi nhận lại tài sản L không có yêu cầu đề nghị gì.

Tại cơ quan điều tra Trần Quốc A, Nguyễn Phạm Phú Q và Vũ Anh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 289/CT-VKSNTL ngày 28/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã truy tố các bị cáo: Trần Quốc A, Vũ Anh T và Nguyễn Phạm Phú Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đề nghị: Áp dụng điểm b Khoản 2 Điều 251, điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự cho cả ba bị cáo Trần Quốc A, Vũ Anh T và Nguyễn Phạm Phú Q. Áp dụng thêm điều 98 và điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Anh T.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc A từ 7 năm 6 tháng tù đến 8 năm tù. Xử phạt bị cáo Vũ Anh T từ 6 năm tù đến 6 năm 3 tháng tù. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phạm Phú Q từ 7 năm 6 tháng tù đến 8 năm tù.

Tịch thu tiêu hủy: 17 túi nilon màu trắng đều có ma túy loại MDMB-4en-PINACA và ma túy loại MDMB-FUBINACA, tổng khối lượng: 49,158 gam;

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 promax màu xanh thu giữ của Trần Quốc A.

Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lời bất chính của: bị cáo Trần Quốc A số tiền 600.000 đồng, bị cáo Vũ Anh T 800.000 đồng.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Vũ Anh T: Bị cáo Vũ Anh T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về việc phạm tội, bị cáo là người chưa thành niên, bị rủ rê, lôi kéo, do bồng bột nên đã phạm tội. Bị cáo phạm tội lần đầu, gia đình có ông nội Vũ Doanh T2 là liệt sỹ, người có công với đất nước. Người bào chữa đề nghị hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1,2 điều 51, điều 91, điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức Viện kiểm sát đề nghị.

Các bị cáo Trần Quốc A, Vũ Anh T và Nguyễn Phạm Phú Q khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Vì vậy, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Trần Quốc A, Vũ Anh T và Nguyễn Phạm Phú Q khai nhận: Trần Quốc A, Vũ Anh T và Nguyễn Phạm Phú Q đã bàn bạc cùng nhau góp tiền mua ma túy về để bán kiếm lời, hưởng lợi chia đều. Sau khi mua được ma túy về chia nhỏ ra để bán thì vào ngày 20/7/2024, Q và Quốc A cùng nhau mang đi bán cho một thanh niên không quen biết 02 gói ma túy “Tobaco” với giá 400.000 đồng. Quốc A bán cho khách 01 gói ma túy “Tobaco” với giá 200.000 đồng. T bán cho khách 04 gói ma túy “Tobaco” với giá 800.000 đồng.

Tiếp đến khoảng 11h45 phút ngày 21/7/2024, tại khu vực ngã tư đường Đ giao với đường T, phường M, quận N, Hà Nội, Trần Quốc A tiếp tục mang 49,158 gam ma túy loại MDMB – 4en –PINACA và ma túy loại MDMB – FUBINACA cả ba đã góp tiền mua trước đó đi bán cho khách nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác công an phường X kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng. Quá trình điều tra các bị cáo đều khai nhận cùng nhau đi bán ma túy nhiều lần để kiếm lời.

Lời khai nhận về hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Quốc A, Vũ Anh T và Nguyễn Phạm Phú Q tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo Trần Quốc A, Vũ Anh T và Nguyễn Phạm Phú Q cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất vụ án: Tệ nạn nghiện hút ma tuý đang bị toàn thể xã hội lên án. Nghiện hút ma tuý gây suy kiệt về sức khoẻ, là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội. Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý chất ma tuý. Dư luận xã hội đòi hỏi phải trừng trị thật nghiêm khắc đối với loại tội phạm này.

[4] Xét vai trò, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Bị cáo Trần Quốc A là người khởi xướng việc phạm tội, rủ rê bị cáo T và Q mua bán ma túy để kiếm lời, tham gia tích cực việc phạm tội, có số tiền góp mua ma túy nhiều hơn các bị cáo khác, là người nhận trực tiếp ma túy từ shiper X1, tìm người mua ma túy trên mạng, liên lạc và chuyển khoản tổng số tiền mua ma túy. Bị cáo Vũ Anh T là người lập tài khoản ảo để sử dụng đăng bán ma túy Tobaco, góp tiền mua ma túy, cùng chia nhỏ ma túy và đi bán cùng các bị cáo khác nên xếp vai trò bị cáo Quốc A, bị cáo Tú cáo hơn vai trò bị cáo Q. Bị cáo Q là người bị bị cáo Quốc A rủ góp tiền mua ma túy bán, số tiền góp bằng bị cáo T và thấp hơn bị cáo Quốc A, cùng đi bán ma túy với Quốc A, số tiền bán ma túy bị cáo Quốc A giữ. Do vậy, xếp vai trò bị cáo Q thấp hơn các bị cáo khác. Các bị cáo Trần Quốc A, Vũ Anh T và Nguyễn Phạm Phú Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Vũ Anh T có ông nội là Liệt sỹ Vũ Doanh T2, bị cáo là người khi phạm tội dưới 18 tuổi nên áp dụng chính sách hình sự đối với người chưa thành niên khi phạm tội được quy định tại điều 98, điều 101 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Phạm Phú Q có ông ngoại là ông Phạm Ngọc S3 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bà nội Đỗ Thị K tham gia hoạt động kháng chiến. Do vậy nên giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo tốt trở thành công dân có ích.

Xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[6] Về vật chứng:17 túi nilon màu trắng đều có ma túy loại MDMB-4en-PINACA và ma túy loại MDMB-FUBINACA, tổng khối lượng: 49,158 gam là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy. 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vario màu trắng BKS: 22B2 - 733.83 thu giữ là xe máy của bị cáo Q mượn của mẹ là chị Phạm Minh N1, chị N1 cho Q mượn đi học, không biết xe được sử dụng vào việc phạm tội, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị N1 là phù hợp với quy định của pháp luật. 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 promax màu xanh, có gắn sim thu giữ của bị cáo Quốc A được sử dụng trong quá trình phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lời bất chính của: bị cáo Quốc A số tiền 600.000 đồng, T 800.000 đồng.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Quốc A, Vũ Anh T và Nguyễn Phạm Phú Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
    • Xử phạt: bị cáo Trần Quốc A 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/7/2024.
    • Xử phạt: bị cáo Nguyễn Phạm Phú Q 7 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/8/2024.
  2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51, điều 98, điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015;
    • Xử phạt: bị cáo Vũ Anh T 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/8/2024.
  3. Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Dân sự: Không

Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong còn nguyên vẹn, đóng dấu niêm phong của C, có chữ ký của Trần Quốc A, Nguyễn Chí H2 – cán bộ C và Phạm Trần N3 – giám định viên.

Tịch thu sung quỹ: 01 điện thoại di động kiểu dáng Iphone 12 promax gắn 01 sim (điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 28 ngày 30 tháng 10 năm 2024 tại chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm).

Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lời bất chính của: bị cáo Trần Quốc A số tiền 600.000 đồng. Vũ Anh T 800.000 đồng.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, Người bị hại;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm+HN;
  • - TAND Tp Hà Nội;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm
  • - Chi cục THA dân sự quận Nam Từ Liêm;
  • - Lưu hồ sơ + văn phòng Toà án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Thị Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 337/2024/HS - ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 337/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Trần Quốc A, Vũ Anh T và Nguyễn Phạm Phú Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger