Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 336/2023/HS-ST

Ngày: 28-11-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Minh và ông Nguyễn Văn Thông

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hoài An - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 205/2023/TLST-HS ngày 03/8/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 208/2023/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1987. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Số A, ngõ E, Cầu Đ, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo, đảng phái: Không. Trình độ văn hóa: 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị C. Có vợ là Nguyễn Thị M (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2013. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  1. Bản án số 116/2007/HSST ngày 05/7/2007 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Đông, tỉnh Hà Tây (nay là quận H, thành phố Hà Nội), xử phạt 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/02/2008.
  2. Bản án số 54/2008/HSST ngày 24/9/2008 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Đông (nay là quận H, thành phố Hà Nội), xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/7/2009.
  3. Bản án số 150/2015/HSST ngày 20/8/2015 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/6/2016.
  4. Bản án số 145/2022/HSST ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, xử phạt 18 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Ngày bắt bị cáo đi thi hành án của bản án là ngày 23/11/2022.

Bị cáo hiện đang chấp hành bản án số 145/2022/HSST ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội tại Trại giam T2 - Cục C2 - Bộ C3 (địa chỉ: xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa). Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

  1. Anh Nhữ Thanh C1, sinh năm 1971. HKTT: Tổ H, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
  2. Anh Quản Trọng V, sinh năm 1979. HKTT: SỐ F, Cầu Đ, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị Lưu L, sinh năm 1981. Trú tại: Xóm P, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 15/11/2018 đến ngày 14/11/2020, trên địa bàn phường H, quận H, lợi dụng mối quan hệ quen biết và sự tin tưởng của chủ sở hữu tài sản, Nguyễn Mạnh H đã 02 lần thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Trưa ngày 15/11/2018, anh Nhữ Thanh C1 điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29T1-740.61 đến chơi nhà H tại số A, ngõ E, Cầu Đ, phường H, quận H, Hà Nội. Sau đó, H hỏi mượn chiếc xe máy trên của anh C1 để đi giải quyết công việc cá nhân và hẹn trả xe luôn trong ngày, anh C1 đồng ý giao xe cho H và đi xe ôm về nhà. Đến ngày 16/11/2018, do thiếu tiền chi tiêu cá nhân, H đã đem chiếc xe máy BKS: 29T1-740.61 của anh C1 đi cầm cố cho một người nam giới không quen biết có biệt danh “Gà” ở phường M, quận H lấy số tiền 3.000.000 đồng (không có giấy tờ cầm cố xe) với thời hạn cầm cố là 01 tuần. Sau đó, H dùng tiền chi tiêu cá nhân hết, không đến chuộc xe. Anh C1 nhiều lần liên lạc với H yêu cầu H đem trả xe nhưng H trốn tránh, cắt liên lạc, không trả xe cho anh C1.

Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/11/2020, anh Quản Trọng V gặp Nguyễn Mạnh H ở quán bia của anh T1 (tại số B, Cầu Đ, phường H, quận H). Tại đây, H hỏi mượn anh V chiếc xe máy Honda Wave màu đen, BKS: 29T1-104.56 nói là đi giải quyết công việc gấp. Anh V đồng ý đưa xe cho H và hẹn 5 phút sau H phải trả xe cho anh V đi đón con.

H điều khiển xe máy của anh V đến khu vực ngã tư đường L, quận H, cầm cố cho Trần Thị Lưu L (sinh năm 1981; HKTT: Xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) là chủ quán đấm lưng, massage tại số C, TT1, khu đô thị V, phường P, quận H, Hà Nội lấy số tiền 3.000.000 đồng. H hẹn không quá 1 tuần sẽ trả tiền cho chị L và chuộc lại xe. Hai bên không viết giấy tờ cầm cố xe. Sau đó, H sử dụng 3.000.000 đồng có được chi tiêu cá nhân hết, không trả tiền cho chị L để chuộc xe. Anh V nhiều lần gọi điện, liên lạc yêu cầu H trả xe nhưng H trốn tránh, bỏ trốn khỏi địa phương.

Ngày 23/11/2018 và 08/12/2020, anh Nhữ Thanh C1 và anh Quản Trọng V đã có đơn trình báo sự việc trên đến Công an phường H, quận H.

Ngày 12/01/2021, Nguyễn Mạnh H đã đến Công an quận H xin đầu thú và khai nhận hành vi vi phạm của bản thân.

Vật chứng của vụ án đã thu giữ: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 29T1-104.56, số khung: 028963, số máy: 228945, đã qua sử dụng do Trần Thị Lưu L giao nộp.

Vật chứng không thu giữ được: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29T1-740.61, màu sơn xanh đen bạc, SK: 3905HY426043, SM: JA39E0401188, đã qua sử dụng.

Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá tài sản bị chiếm đoạt của anh Nhữ Thanh C1 và anh Quản Trọng V. Tại kết luận định giá tài sản số 239/KL-HĐĐGTS ngày 27/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 29T1-740.61, màu sơn xanh đen bạc, SK: 3905HY426043, SM: JA39E0401188, đã qua sử dụng, chưa thu được tang vật, có giá trị là: 15.500.000 đồng. Tại kết luận định

giá tài sản số 345/KL-HĐĐGTS ngày 10/12/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận: 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha màu sơn đen, BKS: 29T1-104.56, SK: 120XBY228954, SM: HC12E3028963, có giá trị là: 7.500.000 đồng.

Ngày 30/01/2021, Cơ quan điều tra đã trao trả anh Quản Trọng V 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha màu đen, BKS: 29T1-104.56, số khung: 028963, số máy: 228945.

Kết quả điều tra xác định: Chị Trần Thị Lưu L là người đã nhận cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 29T1-104.56, số khung: 028963, số máy: 228945, không biết chiếc xe trên là do Nguyễn Mạnh H phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với chị Trần Thị Lưu L.

Đối với đối tượng tên “Gà” là người đã nhận cầm cố chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen bạc, BKS: 29T1-740.61, đã qua sử dụng của Nguyễn Mạnh H. Ngoài lời khai của H, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không có căn cứ truy tìm, xác minh, làm rõ.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Quản Trọng V, chị Trần Thị Lưu L không yêu cầu Nguyễn Mạnh H bồi thường gì về dân sự. Anh Nhữ Thanh C1 yêu cầu Nguyễn Mạnh H bồi thường giá trị tài sản đã bị H chiếm đoạt là 15.500.000 đồng.

Với nội dung như trên, tại Cáo trạng số 200/CT-VKS-HS ngày 01/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Nguyễn Mạnh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 56; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Mạnh H từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình với hình phạt 18 tháng tù tại bản án số 145/2022/HS-ST ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2022.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Quản Trọng V, chị Trần Thị Lưu L không yêu cầu Nguyễn Mạnh H bồi thường về dân sự nên cần ghi nhận. Buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt cho anh N Thanh Cảnh là 15.500.000 đồng và phải nộp số tiền 3.000.000 đồng là tiền thu lời bất chính nhận từ chị L để sung quỹ Nhà nước.

Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung vụ án: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng lòng tin của những người có quen biết, bị cáo đã vờ mượn xe máy của anh N Thanh Cảnh trị giá 15.500.000 đồng và mượn xe máy của anh Quản Trọng V trị giá 7.500.000 đồng; khi nhận được tài sản H đem cầm cố cho chị Trần Thị Lưu L lấy 3.000.000 đồng tiêu xài cá nhân.

Hành vi của Nguyễn Mạnh H đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 điều 175 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội đã truy tố.

[3]. Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an trong khu vực.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt: Bị cáo còn trẻ, có sức khỏe nhưng không tu dưỡng rèn luyện, đã từng nhiều lần bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật lại có 02 hành vi phạm tội liên tiếp nên phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự và cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, một phần tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho người bị hại nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo hiện đang chấp hành hình phạt tại bản án số 145/2022/HSST ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội (tại Trại giam T2-Cục C2-Bộ C3; địa chỉ: xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) kể từ ngày 23/11/2022. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Quản Trọng V đã nhận lại tài sản và chị Trần Thị Lưu L không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên cần ghi nhận. Anh Nhữ Thanh C1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.500.000 đồng là giá trị tài sản bị chiếm đoạt, yêu cầu bồi thường của anh C1 phù hợp quy định của pháp luật nên cần buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường. Số tiền 3.000.000 đồng nhận từ chị L là tiền bị cáo thu lời bất chính cần buộc bị cáo nộp để sung quỹ Nhà nước.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Mạnh H 21 (hai mươi mốt) tháng tù.

Tổng hợp với hình phạt 18 (mười tám) tháng tù tại bản án số 145/2022/HS-ST ngày 08/7/2022 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/11/2022.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng dân sự:
    • - Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Lưu L không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 3.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Quản Trọng V không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác về phần dân sự.
    • - Buộc bị cáo phải nộp số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) thu lời bất chính (đã nhận từ chị L) để sung quỹ Nhà nước.
    • - Buộc bị cáo phải bồi thường giá trị chiếc xe đã chiếm đoạt cho anh N Thanh Cảnh là 15.500.000 đồng (mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ thì người phải thi hành án phải chịu thêm một khoản tiền lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 775.000 (bảy trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  2. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Hà Đông;
  • - Công an quận Hà Đông;
  • - THADS quận Hà Đông;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 336/2023/HS-ST ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 336/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt TS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger