Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

***

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

***

Bản án số: 336/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 11 - 2024 NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hồ Thanh Thuỷ

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Ngọc Phương;
  2. Ông Lê Văn Công.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nghĩa, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 345/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 374/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 74/2024/HSST-QĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Trung N, sinh năm 1998 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi thường trú: Ấp P, xã S, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; nơi tạm trú: 26/8 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 và bà Đỗ Nào C, sinh năm 1979; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/5/2024 cho đến nay.
  2. Huỳnh Cà B, sinh năm 1989 tại tỉnh Cà Mau; nơi thường trú: Ấp X, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nơi tạm trú: 10/DC1 tổ A khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1966 và bà Đỗ Thị T2, sinh năm 1968; bị cáo có 01 người con sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/5/2024 cho đến nay.

Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Ông Phạm Thanh H, sinh năm 1974; trú tại: 1 C, khu phố L, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1987; trú tại: Ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1985; trú tại: 2 khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  2. Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1992; trú tại: B ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  3. Bà Võ Thị Minh T4, sinh năm 1989; trú tại: B ấp A, xã A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  4. Bà Võ Thị Minh T5, sinh năm 1992; trú tại: 1 khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
  5. Bà Nguyễn Thị Minh T6, sinh năm 2003; trú tại: 2 khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

(Tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông La Phương D. Vắng mặt.
  2. Ông Hoàng Ngọc T7. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 23/12/2023, bà Trần Thị Ngọc L1 tổ chức sinh nhật cho bạn tên Võ Thị Minh T5 cùng tham dự có Huỳnh Cà B, Nguyễn Trung N và một số người bạn bè khác. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, ông Nguyễn Văn C1 cùng với ông Phạm Thanh H sau khi đi ăn, uống về thì ông C1 ghé qua căn nhà số B khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương nơi bà L1 đang ở mục đích thăm con gái. Tuy nhiên, do ông C1 và bà L1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn về việc ly hôn và chia tài sản nên khi ghé nhà bà L1, thấy đang tập trung đông người ăn, uống thì ông C1 bực tức. Ông C1 xô mạnh cửa cổng và chỉ tay về phía bàn tiệc nói lớn “ai cho tụi mày vô nhà tao ăn nhậu” thì lúc này, có Nguyễn Ngọc T3, Võ Thị Minh T4, Võ Thị Minh T5 tiến lại và xô đẩy đuổi ông C1 ra phía ngoài cổng dẫn đến cự cãi xô xát. Thấy vậy, Huỳnh Cà B và Nguyễn Trung N tự ý đi vào khu vực bếp nhà bà L1 lấy dao nhằm mục đích đánh nhóm của ông C1. N lấy 01 con dao kích thước dài 27cm, bản rộng 04cm lưỡi thép, đầu bằng, cán gỗ nâu giấu vào bên trong người; Bo lấy 01 con dao kích thước dài 30cm, bản rộng 10cm lưỡi thép, đầu bằng, cán nhựa đen rồi đi ra phía ngoài cổng, khi đến cổng Bo để dao xuống khu vực dưới sân gần cổng mục đích để khi cần sẽ lấy ra sử dụng. Lúc này, phía trước cổng T4, L1 vẫn đang cự cãi với ông C1, trong lúc cự cãi ông C1 dùng tay đánh vào vùng mặt của T4, bị đấm T4 la lên “mày đánh tao” rồi dùng tay đánh trả lại ông C1. Nghe T4 la lên “mày đánh tao” thì T3 lao ra định đánh trả lại ông C1 thì ông C1 bỏ chạy. Lúc này Huỳnh Cà B và Nguyễn Trung N đuổi theo nhóm của ông C1, ông C1 bỏ chạy được, còn ông H thì bị B dùng tay đánh nhiều cái vào người, N dùng con dao chém 4-5 cái vào vùng lưng ông H gây thương tích. Sau đó, những người khác can ngăn nên hai nhóm tự dừng lại, ông C1 điện thoại trình báo sự việc tới công an phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

Tại Kết luận giám định số 112/2024/GĐPY ngày 29/02/2024 và Kết luận giám định số 113/2024/GĐPY ngày 29/02/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y kết luận:

  • + Ông Nguyễn Văn C1 bị chấn thương phần mềm vùng đầu, sây sát da vùng lưng, đã lành. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 00% (không phần trăm).
  • + Ông Phạm Thanh H bị sưng đau gò má trái, sây sát da môi dưới, đã lành; vết thương sây sát da bả vai phải 1,8x0,3cm, lưng trái 2,5x0,2cm, hông lưng trái 6,2x0,2cm, giữa cột sống 6x0,2cm, đã lành, còn sạm da. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 01% (một phần trăm).

Cáo trạng số: 218/CT-VKS -TA ngày 02/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung N và bị cáo Huỳnh Cà B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo và hoàn cảnh gia đình của các bị cáo nên đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, s, i khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị:

  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung N từ 09 (chín) tháng tù đến 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng;
  • + Xử phạt bị cáo Huỳnh Cà B từ 07 (bảy) tháng đến 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 (mười bốn) tháng đến 18 (mười tám) tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Phạm Thanh H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000 đồng, quá trình tố tụng các bị cáo đã tự nguyện khắc phục số tiền này cho bị hại, bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 con dao kích thước dài 27cm, bản rộng 04cm lưỡi thép, đầu bằng, cán gỗ và 01 con dao kích thước dài 30cm, bản rộng 10cm lưỡi thép, đầu bằng, cán nhựa màu đen là hung khí, vật chứng các bị cáo dùng để phạm tội; 01 áo thun màu xám là tư trang của bị hại Phạm Thanh H, ông H không yêu câu nhận lại.

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng theo nội dung Viện kiểm sát truy tố. Các bị cáo đã ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo theo đúng quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
  2. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Trung N và bị cáo Huỳnh Cà B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố các bị cáo trước Tòa. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 30 ngày 23/12/2023, tại địa chỉ: 2, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, Huỳnh Cà B và Nguyễn Trung N có hành vi dùng tay, dùng dao là hung khí nguy hiểm đánh, chém vào người, vào vùng lưng của bị hại Phạm Thanh H gây thương tích với tỷ lệ thương tật 01%. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy đã tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
  3. Hành vi của các bị cáo là là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, trực tiếp xâm hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác. Chỉ vì tức giận do bị hại đến lớn tiếng gây mâu thuẫn với bạn bè mà các bị cáo đã gây thương tích cho bị hại. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự hung hăng, ý thức xem thường sức khỏe, tính mạng của người khác, xem thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội và hậu quả đã gây ra để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
  4. Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.
  5. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  6. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện khắc phục hậu quả nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo Huỳnh Cà B có hoàn cảnh gia định khó khăn, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B. Xét các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc không cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo hưởng án treo, giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  7. Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.
  8. Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Phạm Thanh H yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000 đồng. Quá trình tố tụng, các bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 30.000.000 đồng để bồi thường cho bị hại Phạm Thanh H, tại phiên tòa ông H không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

  1. Về xử lý vật chứng:

01 con dao kích thước dài 27cm, bản rộng 04cm lưỡi thép, đầu bằng, cán gỗ và 01 con dao kích thước dài 30cm, bản rộng 10cm lưỡi thép, đầu bằng, cán nhựa màu đen là hung khí, vật chứng các bị cáo dùng để phạm tội; 01 áo thun màu xám là tư trang của bị hại Phạm Thanh H, ông H không yêu cầu nhận lại nên tịch thu, tiêu hủy.

  1. Đối với Nguyễn Ngọc T3, quá trình điều tra xác định T3 có dùng tay định đánh ông Phạm Thanh H nhưng dừng lại, không cùng gây thương tích cho ông Phạm Thanh H nên không đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Ngọc T3 là phù hợp.
  2. Đối với hành vi cự cãi, đánh nhau bằng tay không của Nguyễn Ngọc T3, Võ Thị Minh T4, Nguyễn Trung N, Huỳnh Cà B, Nguyễn Ngọc L đối với ông Nguyễn Văn C1, theo kết luận giám định ông Nguyễn Văn C1 có tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 00% (Không phần trăm) nên không đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích. Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Ngọc T3, Võ Thị Minh T4, Nguyễn Trung N, Huỳnh Cà B là đúng quy định pháp luật.
  3. Đối với hành vi gây rối trật tự công cộng, xét thấy tại thời điểm diễn ra vụ việc lúc 22 giờ 30, thời gian xảy ra nhanh khoảng 05 phút, nơi xảy ra tại khu vực không tập trung đông dân cư, không ảnh hưởng đến người dân xung quanh, Ủy ban nhân dân phường A có công văn 285A/UBND-NC ngày 02/7/2024 cho biết, qua vụ việc trên không ảnh hưởng gì đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, Ủy ban nhân dân phường không có nhận phản ảnh nào của người dân liên quan vụ việc trên. Qua xác minh thực tế người dân xung quanh nơi xảy ra sự việc không có ai bức xúc hay dư luận gì, hậu quả vụ việc cũng không lớn, nguyên nhân chỉ xuất phát từ mâu thuẫn tình cảm. Ủy ban nhân dân phường không có kiến nghị gì đối với vụ việc trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Trung N và bị cáo Huỳnh Cà B về hành vi Gây rối trật tự công cộng, đề nghị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tham gia tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng, quy định tại điểm b, Khoản 2, Điều 7, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là có căn cứ.
  4. Đối với Võ Thị Minh T5, Nguyễn Thị Minh T6, Trần Công S, Hoàng Ngọc T7, Nguyễn Văn P không tham gia đánh nhau trong vụ việc, đã có hành động can ngăn các đối tượng đánh nhau nên Cơ quan cảnh sát điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
  5. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nguyễn Trung N;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Cà B;
  • - Điều 106 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 584, Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
  • - Điều 23, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trung N và Huỳnh Cà B phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung N 10 (mười) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Cà B 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Trung N và bị cáo Huỳnh Cà B cho Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Giao cho bị hại Phạm Thanh H số tiền 30.000.000 đồng là tiền bồi thường do bị cáo Nguyễn Trung N và bị cáo Huỳnh Cà B đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004300 ngày 27/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An.

3. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy 01 con dao kích thước dài 27cm, bản rộng 04cm lưỡi thép, đầu bằng, cán gỗ và 01 con dao kích thước dài 30cm, bản rộng 10cm lưỡi thép, đầu bằng, cán nhựa màu đen và 01 áo thun màu xám.

4. Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Trung N và bị cáo Huỳnh Cà B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thuận An;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Chi cục THADS TP Thuận An;
  • - Công an TP Thuận An;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: HS, THAHS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Thanh Thuỷ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 336/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 336/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger