|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 336/2024/HS-ST Ngày: 27-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sái Đức Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Văn Hùng; Ông Lê Đình Hiệp.
Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Quản Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 322/2024/TLST-HS, ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 342/2024/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên Trương Công H, sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Tổ 2, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Công D (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Ngày 26/9/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Xử phạt 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 26/3/2024. Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 18/12/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 29/4/2014.
+ Ngày 14/5/2010, bị Công an huyện P, tỉnh Quảng Nam. Xử phạt vi phạm hành chính 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
+ Ngày 27/10/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là: 12 (Mười hai tháng). Chấp hành xong ngày 25/10/2017.
+ Ngày 05/3/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn: 15 (Mười lăm) tháng. Chấp hành xong ngày 06/7/2022.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt)
2. Họ và tên Triệu Chiến T, sinh năm 1967.
Nơi cư trú: Xóm Cổ R, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Triệu Khắc H (đã chết) và bà Khổng Thị N (đã chết); Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Ngày 15/7/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Xử phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 28/7/2021 và nộp tiền án phí ngày 07/12/2020.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/8/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Trần Ngọc L, sinh năm 1986
Nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn. H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Xóm Gốc V 2, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 00 phút ngày 27/8/2024 tổ công tác của Công an xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm H, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên phát hiện 02 người đàn ông ngồi gần 01 chiếc xe mô tô HONDA, Wave a màu đỏ-đen- bạc, gắn BKS: 20B2-086.00 có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra và mời người chứng kiến; phát hiện dưới nền đất có 01 xi lanh kim tiêm nhựa màu trắng đã qua sử dụng không có gì bên trong và 01 vỏ lọ thủy tinh màu trắng đã qua sử dụng, ngoài có in chữ “Novocain”. Hai người đàn ông tự khai nhận tên là Triệu Chiến T và Trương Công H (T, H khai nhận số vật chứng tổ công tác vừa phát hiện là dụng cụ chuẩn bị để sử dụng ma túy). H đã tự giác giao nộp cho tổ công tác của Công an xã C 01 (một) gói nhỏ gói ngoài bằng mảnh giấy dạng giấy vở học sinh màu trắng có kẻ ngang kích thước khoảng 3x3cm, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng đang cầm trên tay phải và tự khai nhận là ma túy Heroine của H đã cùng T đi mua, T đã sử dụng một ít, còn lại H chưa kịp sử dụng; 01 lọ thủy tinh màu trắng, bên trong đựng dung dịch màu trắng, bên ngoài có dán nhãn in chữ “Pipolphen” đang cầm ở tay trái. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H,T và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã tiến hành cân xác định khối lượng số bột trắng thu giữ của Trương Công H, Triệu Chiến T có khối lượng là 0,123 gam và lấy toàn bộ ký hiệu H gửi giám định.
Tại Kết luận giám định số 962/KL-KTHS ngày 04/9/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu H gửi giám định là chất ma túy; Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, các bị cáo Trương Công H, Triệu Chiến T khai nhận: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/8/2024, H đi bộ từ nhà đến quán điện thoại “Phương H 1” ở khu vực gần đường tròn C, thành phố T để cầm cố 01 điện thoại di động OPPO 6Z 5g của H lấy số tiền 200.000 đồng mục đích đi mua ma túy Heroine để sử dụng. Sau khi cầm cố điện thoại thì H gặp T một mình điều khiển xe mô tô HONDA Wave a BKS 20B2-086.00 đến, H rủ T chở đi mua ma túy và hứa trả công T cùng sử dụng ma túy, T đồng ý. Trên đường đi, H đã vào một hiệu thuốc ở khu vực đảo tròn C mua 01 xi lanh nhựa, 01 lọ Novocain và 01 lọ Pipolphen giá 25.000 đồng mục đích để sử dụng sau khi mua ma túy. Sau đó, H và T đến khu vực dân sinh thuộc xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên gặp 01 người đàn ông không quen biết mua 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng. Sau đó T chở H vào bãi đất trống thuộc xóm H, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, H đưa cho T 01 phần ma túy Heroine để sử dụng trước, H chưa kịp sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã C bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Cáo trạng số 322/CT-VKSTPTN ngày 29/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố Trương Công H và Triệu Chiến T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo: Trương Công H, Triệu Chiến T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trương Công H từ 21 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Triệu Chiến T từ 18 đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu: H (bên trong có 0,103 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định và vỏ gói mẫu niêm phong đã gửi giám định); 01 bì niêm phong ký hiệu: L (bên trong có vỏ bì niêm phong ban đầu ký hiệu Al và toàn bộ bỏ mẫu ban đầu); 01 (một) xilanh bơm kim tiêm nhựa màu trắng loại 3ml/cc đã qua sử dụng không chứa gì bên trong; 01 (một) vỏ lọ thủy tinh màu trắng ngoài có in chữ “Novocain” đã qua sử dụng, không chứa gì bên trong; 01 (một) lọ thủy tinh màu trắng ngoài có dán nhãn in chữ “Pipolphen" 50mg/2ml trong có chứa dung dịch màu trắng, chưa qua sử dụng. 01 (một) xe mô tô HONDA Wave a, màu đỏ- đen- bạc, gắn BKS: 20B2-086.00, số máy JA39E055372, số khung: RLHJA3902HY581780, đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu (anh Trần Ngọc L) theo quy định pháp luật nên không đề nghị xem xét.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố Tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, lời nói sau cùng, bị cáo H đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội, bị cáo T không có ý kiến gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai đó có căn cứ và phù hợp với chính lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Vào hồi 16 giờ 00 phút ngày 27/8/2024, tại xóm H, xã C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Các bị cáo: Trương Công H và Triệu Chiến T đã có hành vi tàng trữ 0,123 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác Công an xã C, thành phố T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên. Sau đó đã bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố T điều tra xử lý theo thẩm quyền.
Hành vi của các bị cáo Trương Công H và Triệu Chiến T có đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Cáo trạng của VKSND thành phố T, tỉnh Thái Nguyên truy tố các bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với các bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam."
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
[3]. Về tính chất mức độ tội phạm: Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự xã hội ở địa phương, còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm khác.... Xét vị trí vai trò của từng bị cáo thấy rằng, bị cáo H là người khởi xướng rủ rê, bị cáo T là người giúp sức và cùng nhau thực hiện tội phạm. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo với một mức án nghiêm minh và cách ly khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
[4]. Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Về nhân thân các bị cáo đều là người nghiện ma tuý có nhân thân xấu. Cụ thể, bị cáo H đã 02 lần, bị cáo T 01 lần bị Tòa án xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngoài ra, còn nhiều lần bị xử lý hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học rèn luyện tu dưỡng bản thân trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hưng phải chịu tình tiết tăng nặng "tái phạm" tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy không có công việc và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 bì niêm phong ký hiệu: H (bên trong có 0,103 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định và vỏ gói mẫu niêm phong đã gửi giám định); 01 bì niêm phong ký hiệu: L (bên trong có vỏ bì niêm phong ban đầu ký hiệu Al và toàn bộ bỏ mẫu ban đầu); 01 (một) xilanh bơm kim tiêm nhựa màu trắng loại 3ml/cc đã qua sử dụng không chứa gì bên trong; 01 (một) vỏ lọ thủy tinh màu trắng ngoài có in chữ “Novocain” đã qua sử dụng, không chứa gì bên trong và 01 (một) lọ thủy tinh màu trắng ngoài có dán nhãn in chữ “Pipolphen" 50mg/2ml trong có chứa dung dịch màu trắng, chưa qua sử dụng, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) xe mô tô HONDA Wave a, màu đỏ- đen- bạc, gắn BKS: 20B2-086.00, số máy JA39E055372, số khung: RLHJA3902HY581780, đã qua sử dụng bị thu giữ là của anh Trần Ngọc L; Anh L không biết việc T mượn xe mô tô để đi mua ma tuý sử dụng nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh L quản lý là phù hợp.
[7]. Về nguồn gốc số ma túy Heroine bị thu giữ Trương Công H khai mua của người đàn ông không quen biết ở khu vực đường dân sinh thuộc khu vực xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của người bán ma tuý cho H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý. Hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Triệu Chiến T ngày 27/8/2024. Ngày 03/10/2024, Công an xã C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức “Cảnh cáo” theo quy định tại khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ; Đối với 01 (một) xe mô tô HONDA Wave a, màu đỏ- đen- bạc, gắn BKS: 20B2-086.00, số máy JA39E055372, số khung: RLHJA3902HY581780, đã qua sử dụng bị thu giữ: Quá trình xác minh, xác định xe mô tô nêu trên là tài sản hợp pháp của anh Trần Ngọc L; Anh L không biết trước, không đồng ý việc T, H sử dụng xe mô tô nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
[8]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên trong lời luận tội về tội danh, về hình phạt, về án phí và xử lý vật chứng là phù hợp với quy định pháp luật nên cần chấp nhận.
[9]. Về án phí: Các bị cáo Trương Công H, Triệu Chiến T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Công H, Triệu Chiến T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt chính:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trương Công H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2024.
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Triệu Chiến T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về tạm giam: Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, ra quyết tạm giam Trương Công H và Triệu Chiến T mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu: H (bên trong có 0,103 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định và vỏ gói mẫu niêm phong đã gửi giám định); 01 bì niêm phong ký hiệu: L (bên trong có vỏ gói bì niêm phong ban đầu ký hiệu Al và toàn bộ vỏ mẫu vật ban đầu); 01 (một) xi lanh bơm kim tiêm nhựa màu trắng loại 3ml/cc đã qua sử dụng không chứa gì bên trong; 01 (một) vỏ lọ thủy tinh màu trắng ngoài có in chữ NOVOCAIN đã qua sử dụng, không chứa gì bên trong; 01 (một) lọ thủy tinh màu trắng ngoài có dán nhãn in chữ "Pipolphen" 50mg/2ml trong có chứa dung dịch màu trắng, chưa qua sử dụng.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố Tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trương Công H và Triệu Chiến T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo Trương Công H, Triệu Chiến T có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sái Đức Trung |
Bản án số 336/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 336/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: QUYẾT ĐỊNH: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương Công H, Triệu Chiến T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Về hình phạt chính: - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Trương Công H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2024. - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Triệu Chiến T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/8/2024. 3. Về hình phạt bổ sung: Không phạt bổ sung đối với các bị cáo. 4. Về tạm giam: Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, ra quyết tạm giam Trương Công H và Triệu Chiến T mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. 5. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu: H (bên trong có 0,103 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định và vỏ gói mẫu niêm phong đã gửi giám định); 01 bì niêm phong ký hiệu: L (bên trong có vỏ gói bì niêm phong ban đầu ký hiệu A1 và toàn bộ vỏ mẫu vật ban đầu); 01 (một) xi lanh bơm kim tiêm nhựa màu trắng loại 3ml/cc đã qua sử dụng không chứa gì bên trong; 01 (một) vỏ lọ thủy tinh màu trắng ngoài có in chữ NOVOCAIN đã qua sử dụng, không chứa gì bên trong; 01 (một) lọ thủy tinh màu trắng ngoài có dán nhãn in chữ "Pipolphen" 50mg/2ml trong có chứa dung dịch màu trắng, chưa qua sử dụng. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 31/10/2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T). 6. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố Tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trương Công H và Triệu Chiến T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào Ngân sách Nhà nước. 7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo Trương Công H, Triệu Chiến T có mặt tại phiên toà, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
