Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 336/2024/HS-ST

Ngày 21/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Ngọc Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tô Văn Nhung;
  2. Bà Hoàng Lệ Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Cao Tấn Ngoan, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 326/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 337/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Võ Đức Quốc T, sinh năm 1987 tại tỉnh Long An; thường trú: Khu phố B, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: Số B khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; con ông Võ Đức T1 (đã chết) và bà Trần Thị S (đã chết); bị cáo vợ tên là Nguyễn Thị Út C, sinh năm 1985; có 02 con ruột, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 cho đến nay; có mặt.
  2. Phạm Nhật T2, sinh năm 1994 tại tỉnh Hậu Giang; thường trú: Ấp T, xã L, huyện P, tỉnh Hậu Giang; chỗ ở: Nhà T, ấp D, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phạm Ngọc T3 (đã chết) và bà Nguyễn Kim H, sinh năm 1976; bị cáo có 02 chị em ruột, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 2005; bị cáo vợ tên là Phạm Thị Hồng Đ, sinh năm 1995; có 01 con ruột, sinh năm 2021; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 20/4/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An xử phạt 35.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2022/HS-ST, đóng án phí ngày 21/6/2022, chưa đóng tiền phạt; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/8/2023 đến ngày 05/8/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị bắt tạm giam từ ngày 21/10/2023 cho đến này; có mặt.

- Nguyên đơn dân sự:

  1. Công ty T8; địa chỉ: Lô C, đường số G, khu công nghiệp V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Duy T4; chức danh: Giám đốc; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

  2. Tập đoàn B1 - A Văn phòng Đ3 (Singapore) Pre Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Đỗ Hoàng A; chức vụ: Người đứng đầu văn phòng đại diện; có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Đỗ Bá Hoàng Vĩnh Đ1, sinh năm 1992; thường trú: Thôn H, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; chỗ ở: Số E Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Út C, sinh năm 1985; thường trú: Khu phố B, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; chỗ ở: Số B khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  3. Ông Hà V, sinh năm 1981; thường trú: Khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; vắng mặt.
  4. Ông Phan Thế A1, sinh năm 1987; thường trú: Số A đường T, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  5. Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1988; thường trú: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
  6. Ông Nguyễn Trung T6, sinh năm 1952; thường trú: Số C A, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  7. Ông Lê Hữu T7, sinh năm 1986; thường trú: Số B khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số G, đường số H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
  8. Ông Nguyễn Tuấn K, sinh năm 2002; thường trú: Số nhà E, ấp V, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; vắng mặt.
  9. Ông Trần Nhựt L, sinh năm 2000; thường trú: Số nhà A, ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An; vắng mặt.
  10. Công ty TNHH T9; địa chỉ: Số D khu phố T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tuấn A2; chức vụ: Giám đốc; vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến: Ông Đinh Công K1, sinh năm 1984 và ông Lê Hữu M, sinh năm 1994; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Nhật T2 làm nghề lái xe nhưng công việc không ổn định. T2 quen biết với một người đàn ông tên B (không rõ nhân thân, lai lịch) là người buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu ở Cửa khẩu T, Campuchia. Sau đó, T2 nhận việc chạy xe giao thuốc lá điếu nhập lậu cho khách hàng của B ở địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Võ Đức Quốc T không có nghề nghiệp ổn định nên T Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu để kiếm tiền tiêu xài. Ngày 26/6/2023, Võ Đức Quốc T được bạn bè xã hội giới thiệu một người có tài khoản mạng xã hội facebook tên “Đạt Lê” buôn bán các loại thuốc lá điếu nhập lậu nhãn Jet, H1, 555.... Võ Đức Quốc T sử dụng ứng dụng mạng xã hội mesenger tên “Trung Võ” để liên lạc với Đ2 nhằm mục đích mua thuốc lá điếu nhập lậu của Đ2 về bán lại kiếm tiền tiêu xài. Sau khi nhận đơn đặt hàng thuốc lá của T, Đ2 cho lái xe điều khiển xe ô tô chở thuốc lá đến địa chỉ nhà của Võ Đức Quốc T tại số B khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 02/8/2023, Tổ tuần tra của Công an thành phố D tuần tra địa bàn Quốc lộ A, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương để đảm bảo an ninh trật tự (viết tắt là ANTT). Khi đến trước Chùa L2, địa chỉ Quốc lộ A, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương phát hiện Đỗ Bá Hoàng Vĩnh Đ1, sinh năm 1992; thường trú: Thôn H, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; chỗ ở: Số E, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển số 60B3-337.09 chở theo một thùng carton có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, thùng đựng hàng bên ngoài có chữ Lalamove để ngay chỗ để chân và thùng giấy carton chở phía sau xe của Đỗ Bá Hoàng Vĩnh Đ1 có tổng cộng 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Craven A, 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu ZOUK, 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Menthol, 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Lights và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Gold). Tổ tuần tra đã lập Biên bản tạm giữ, niêm phong toàn bộ số lá trên và yêu cầu Đỗ Bá Hoàng Vĩnh Đ1 về Cơ quan Công an để làm việc. Tại Cơ quan Công an, Đ1 khai nhận toàn bộ số thuốc lá trên là của mình vừa mua của Võ Đức Quốc T, nhà ở địa chỉ số B khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để bán lại cho khách hàng có nhu cầu sử dụng để kiếm tiền tiêu xài.

Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 02/8/2023, Phạm Nhật T2 đang ở nhà thì B điện thoại nói ra cửa khẩu T10 lấy xe ô tô để đi giao thuốc lá cho khách của B nên Phạm Nhật T2 đi đến điểm hẹn gặp B và B giao cho xe ô tô biển số 51G-50484 hiệu KIA, số loại Cerato, màu trắng. Sau khi nhận xe, Phạm Nhật T2 biết trong xe có thuốc lá điếu nhập lậu là J và H1. Lúc này, T2 hỏi số lượng là bao nhiêu thì B mới nói 298 cây, tương đương 2980 bao. Phạm Nhật T2 tự biết đi giao cho Võ Đức Quốc T ở phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh vì T2 chỉ nhận chở giao thuốc lá điếu nhập lậu cho T. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, T2 đến nhà của Võ Đức Quốc T và điện thoại cho T ra nhận thuốc lá điếu nhập lậu, còn tiền thì T và Bắc tự thoả thuận với nhau, nhiệm vụ của Phạm Nhật T2 chỉ chạy xe đi giao thuốc và lấy tiền công từ B. Sau khi T2 giao 2980 bao thuốc lá điếu nhập lậu cho T, T2 điện thoại lại cho B báo đã giao hàng và T2 điều khiển xe ô tô về lại Cửa khẩu T, Campuchia giao xe ô tô lại cho B. Khi T2 điều khiển xe ô tô biển số 51G-504.84 hiệu KIA, số loại Cerato, màu trắng đi đến đường L, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, thì bị Tổ tuần tra Công an thành phố D yêu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, Lực lượng Công an phát hiện tại ghế phụ phía trước bên phải của xe ô tô có biển số xe 51G-327.86 và biển số xe 51K-365.92. Sau khi làm việc với Cơ quan Công an, Phạm Nhật T2 đã khai nhận hành vi phạm tội và tự thú với Cơ quan Công an về việc Vận chuyển hàng cấm của bản thân. Đồng thời, Phạm Nhật T2 cũng xác định được địa điểm đã giao thuốc lá cho T là tại địa chỉ Số B khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/8/2023, sau khi nhận thuốc lá của T2, Võ Đức Quốc T đã lấy tổng cộng 2690 bao thuốc lá điếu nhập lậu (bao gồm: 1800 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, 600 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, 190 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Gold và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott) và 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SAIGON Silver trong nhà để lên xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent màu đỏ mang biển kiểm soát 72A-490.05 để mang đi giao cho khách hàng trên địa bàn thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi Võ Đức Quốc T điều khiển xe ô tô trên đến khu vực trước số nhà S đường L, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì bị Tổ tuần tra của Công an thành phố D phát hiện và đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật, đối với Võ Đức Quốc T, về hành vi Buôn bán hàng cấm. Tại cơ quan Công an, Võ Đức Quốc T thừa nhận toàn bộ số thuốc lá điếu nhập lậu và số thuốc lá điếu do Việt Nam sản xuất trong xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent màu đỏ mang biển kiểm soát 72A-490.05 do Võ Đức Quốc T điều khiển là của mình và đang trong quá trình đem đi giao cho khách hàng.

Cùng ngày, tiến hành khám xét nơi ở của Võ Đức Quốc T tại Số B khu phố A, phường L, thành T, Thành phố Hồ Chí Minh, thu giữ: 3.360 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet màu trắng; 360 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet màu vàng; 1.470 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Gold; 1.450 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero; 790 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse menthol; 560 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse Classic; 520 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse Coold; 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse light; 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Mond Variance; 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Canyon; 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott; 320 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse (trúc); 1.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse change; 430 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Mandarin; 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Zouk; 1.000 bao thuốc lá điếu hiệu S; 500 bao thuốc lá điếu hiệu 555 (Việt Nam); 500 bao thuốc lá điếu hiệu Caraven (loại lớn); 1000 bao thuốc lá điếu hiệu Caraven (loại nhỏ); 1.000 bao thuốc lá điếu hiệu Horse và 05 bịch nylon màu đen, 03 cuộn băng keo, 02 cái dao rọc giấy, 10 thùng giấy carton hiệu Staft. Tổng cộng 4.000 bao thuốc lá điếu nội và 11.680 bao thuốc lá điếu nhập lậu.

Tại thời điểm khám xét, vợ của Võ Đức Quốc T là bà Nguyễn Thị Út C, sinh năm 1985; thường trú: Khu phố B, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: Số B khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cùng tham gia chứng kiến việc khám xét của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D.

* Thu giữ tang vật gồm có:

  • + 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Craven A, 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu ZOUK, 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Menthol, 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Lights và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Gold) (thu của Đ1 trên mua về để bán).
  • + 2690 bao thuốc lá điếu nhập lậu (bao gồm: 1800 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, 600 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, 190 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Gold và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott) và 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SAIGON Silver (nghi giả) (thu của T trên đường đi bán).
  • + 11.680 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 3.360 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet màu trắng; 360 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet màu vàng; 1.470 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Gold; 1.450 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero; 790 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse menthol; 560 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse Classic; 520 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse Coold; 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse light; 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Mond Variance; 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Canyon; 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott; 320 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse (trúc); 1.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse change; 430 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Mandarin; 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Zouk; 1.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SAIGON Silver; 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 State Express; 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Craven Classic (loại lớn); 1000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Craven DEMI (loại nhỏ); 1.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu White Horse; 05 bịch nylon màu đen; 03 cuộn băng keo; 02 cái dao rọc giấy; 10 thùng giấy carton hiệu Staft (thu tại nhà của T).
  • + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Model CPH 2325 có gắn sim số 0389415917 (thu của Phạm Nhật T2).
  • + 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 11 Promax màu đen số máy MWH72LL/A có gắn sim số 0945681639 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax số máy MLKP3LL/A (thu của Võ Đức Quốc T).

Ngày 08/8/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ban hành Công văn số: 1684/ĐCSKT&MT gửi cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh về việc tiếp nhận hồ sơ điều tra, xử lý theo thẩm quyền đối với hành vi Vận chuyển hàng cấm do Phạm Nhật T2 thực hiện.

Ngày 11/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã ban hành Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Võ Đức Quốc T về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự.

Ngày 18/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Phiếu chuyển tin về tội phạm số 168/PC-CQCSĐT-KT về việc chuyển giao lại toàn bộ hồ sơ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D theo khoản 4 Điều 163 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tiếp tục thụ lý theo thẩm quyền đối với hành vi “Vận chuyển hàng cấm” do Phạm Nhật T2 thực hiện.

Ngày 27/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Nhật T2 về tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

* Theo nội dung Văn bản số: 09/2023-AIT-BAT ngày 03/10/2023 của Văn phòng Đ3 (Singapore) Pre Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh thì số thuốc lá nhãn hiệu 555, Craven, H2 mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D thu giữ của Võ Đức Quốc T đều là giả.

* Căn cứ Kết luận giám định số: 340/KL-KTHS(TL) ngày 08/01/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B, xác định: Bao thuốc lá và tem thuốc lá trên tổng số 500 bao thuốc lá điếu hiệu 555 (Việt Nam); 500 bao thuốc lá điếu hiệu Craven (loại lớn); 1000 bao thuốc lá điếu hiệu Craven (loại nhỏ); 1.000 bao thuốc lá điếu hiệu Horse thu giữ của Võ Đức Quốc T so với bao thuốc lá và tem thuốc lá do Văn phòng Đ3 - A (Singapore) Pre Ltd tại thành phố Hồ Chí Minh cung cấp và được niêm phong có dấu mộc tròn màu đỏ của Văn phòng Đ3 - American Tobacco M1 (Singapore) Pre Ltd tại thành phố Hồ Chí Minh cung cấp không phải do cùng một chế bản in in ra.

* Căn cứ Kết luận giám định số: 1516/KL-KTHS(TL) ngày 25/3/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B, xác định: 1500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SAIGON Silver (bao gồm cả tem thuốc lá được dán trên từng bao thuốc lá) thu giữ của Võ Đức Quốc T so với mẫu mà Công ty TNHH MTV T8 cung cấp không phải do cùng một chế bản in in ra.

* Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 47/KLĐG-HĐĐGTS ngày 21/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự thành phố D, xác định: Số hàng hoá gồm 1.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SAIGON Silver; 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 State Express; 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Craven Classic (loại lớn); 1000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Craven DEMI (loại nhỏ); 1.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu White Horse có tổng giá trị là 92.500.000 đồng.

Ngày 29/3/2024, căn cứ hồ sơ, tài liệu chứng cứ thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã ban hành Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can đối với Võ Đức Quốc T về tội “Buôn bán hàng giả” quy định tại khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự.

* Căn cứ Kết luận giám định số: 936, 937/KL-KTHS(SKSM) cùng ngày 13/9/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh B, xác định: số khung và số máy của xe ô tô biển số 51G-50484 hiệu KIA, số loại: Cerato màu trắng và xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent màu đỏ mang biển kiểm soát 72A-490.05 không đổi, không bị cắt hàn, đục sửa.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ý kiến hay khiếu nại gì về các Kết luận giám định và Kết luận định giá nêu trên.

* Đối với biển số xe 51G-327.86 và biển số xe 51K-365.92, quá trình điều tra xác định được như sau:

  • - Ông Nguyễn Trung T6, sinh năm 1952; thường trú: Số C A, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là chủ sở hữu của xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, biển số 51K-365.92, ông Nguyễn Trung T6, xác định: Ông T6 mua xe và đăng ký xe cho đến nay thì ông vẫn sử dụng xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, biển số 51K-365.92. Quá trình sử dụng ông T6 không cho ai mượn biển số 51K-365.92 và ông T6 cũng không biết, biển số xe của ông bị làm giả.
  • - Công ty TNHH H4, địa chỉ: Số C, đường M, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội đứng tên chủ sở hữu để đăng ký cho ô tô nhãn hiệu Toyota Yaris biển kiểm soát 51G-327.86. Tuy nhiên, tiến hành xác minh tại Công an phường M, quận H, Thành phố Hà Nội xác định tại số C, đường M, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội không có Công ty TNHH H4 đặt trụ sở hoạt động kinh doanh.

* Đối với ông Đỗ Bá Hoàng Vĩnh Đ1 chỉ thực hiện mua bán tổng cộng 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu, chưa đủ định lượng để xử lý hình sự và chưa có tiền án, tiền sự nên Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Đỗ Bá Hoàng Vĩnh Đ1 về hành vi Buôn bán hàng cấm là 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu với số tiền là 40.000.000 đồng theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 8 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ.

* Đối với bà Nguyễn Thị Út C, sinh năm 1985; thường trú: Khu phố B, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, qua xác minh, xác định: Bị cáo Võ Đức Quốc T và Nguyễn Thị Út C là vợ chồng và cùng thuê nhà sinh sống tại địa chỉ số B khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình sống chung, Nguyễn Thị Út C có thấy Võ Đức Quốc T buôn bán thuốc lá nhưng do thấy thuốc lá Việt Nam và nghe T nói bán thuốc lá Việt Nam nên Út C không để ý đến việc kinh doanh của T mà chỉ tập trung đi làm phụ một người cô tên H3 ở chợ A3, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương từ sáng đến tối mới về nhà, sau đó chăm sóc con. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Út C cũng không biết chữ và cũng không sử dụng điện thoại. Lý do Võ Đức Quốc T sử dụng tài khoản Ngân hàng số 1987366666666 thuộc Ngân hàng M2 của Nguyễn Thị Út C để mua bán thuốc lá với Đ2 bởi vì tài khoản Ngân hàng của T bị lỗi nên không thể sử dụng được và từ đó T sử dụng số tài khoản của NGUYEN THI UT CHI. Bà Nguyễn Thị Út C không đồng phạm với Võ Đức Quốc T, về hành vi Buôn bán hàng cấm, Buôn bán hàng giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không đề cập xử lý.

* Đối với ông Lê Hữu T7, sinh năm 1986; thường trú: Số B khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số G đường số H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là chủ căn nhà nơi Võ Đức Quốc T thuê để ở, ông T7 hoàn toàn không biết việc Võ Đức Quốc T thuê nhà mình để làm nơi chứa chấp, buôn bán hàng cấm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công thành phố D không đề nghị xử lý.

* Đối với số tài khoản 0388813882, chủ tài khoản là Nguyen T và số tài khoản số 0862899180, chủ tài khoản là Tran N có liên quan đến việc Buôn bán hàng cấm của Võ Đức Quốc T, quá trình điều tra kết quả như sau:

  • - Số tài khoản 0388813882 thuộc Ngân hàng V1 do Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 24/02/2002, CCCD số: [...]; thường trú: Số nhà E ấp V, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An mở để sử dụng.
  • - Số tài khoản 0862899180 thuộc Ngân hàng V1 do Trần Nhựt L, sinh ngày 31/3/2000, CCCD số: [...]; thường trú: Số nhà A, ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An mở để sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiến hành xác minh tại Công an xã M, huyện Đ, tỉnh Long An xác định Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 24/02/2002, CCCD số: [...] và Trần Nhựt L, sinh ngày 31/3/2000, CCCD số: [...] đều có đăng ký hộ khẩu thường trú như trên tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Tuy nhiên, hiện tại Nguyễn Tuấn K và Trần Nhựt L không còn sinh sống tại địa phương, đi đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục thu thập thông tin, xác minh nhân thân và nơi ở của Nguyễn Tuấn K, Trần Nhựt L xử lý theo quy định của pháp luật.

* Đối với Phạm Nhật T2 khai nhận đã vận chuyển thuốc lá nhập lậu cho Võ Đức Quốc T 02 lần trước đó, nhưng T không thừa nhận, không rõ vận chuyển thuốc lá số lượng bao nhiêu, không có chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ xử lý Trường những lần vận chuyển hàng cấm trước đó.

* Đối với tên B, tên gọi khác là Đ2 (có tên fecabook là Đạt L1) chưa rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại Cáo trạng số: 170/CT - VKS - DA ngày 02 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố Võ Đức Quốc T về tội “Buôn bán hàng cấm” và “Buôn bán hàng giả” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 và điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Phạm Nhật T2 về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190, điểm a khoản 1 Điều 192; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Võ Đức Quốc T từ 08 năm 03 tháng đến 09 năm 03 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, xử phạt từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Buôn bán hàng giả”, đồng thời áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt chung của 02 tội danh từ 09 năm 06 tháng đến 11 năm tù.
  • - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Phạm Nhật T2 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

* Xử lý vật chứng:

  • - Đối với xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent màu đỏ, biển số 72A-490.05 do ông Hà V, sinh năm 1981; thường trú: Khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đứng tên sở hữu; xe ô tô trên do ông V mua mới và về để sử dụng, sau đó cho Võ Đức Q Trung liên hệ để thuê để chở khách thuê, T sử dụng làm phương tiện phạm tội ông V không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả xe cho ông V.
  • - Đối với xe ô tô biển số 51G-50484 hiệu KIA, số loại: Cerato màu trắng là ông Phan Thế A1, sinh năm 1987; thường trú: Số A đường T, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên sở hữu. Ngày 02/6/2023, ông Phan Thế A1 đã cho Công ty TNHH T9, địa chỉ: Số D T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thuê để sử dụng. Tiếp tục làm việc với ông Nguyễn Tuấn A2, sinh năm 1985; thường trú Số D T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là giám đốc của Công ty TNHH T9, xác định sau khi Công ty TNHH T9 thuê xe của ông Phan Thế A1 thì Công ty TNHH T9 tiếp tục cho ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1988, thường trú: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh vào ngày 05/7/2023 để ông Nguyễn Văn T5 sử dụng. Hiện tại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D chưa làm việc được với ông Nguyễn Văn T5. Do vậy, đây là tài sản hợp pháp của ông Phan Thế A1 và ông Phan Thế A1 chỉ cho Công ty TNHH T9 thuê xe để sử dụng, còn việc Công ty TNHH T9 cho ai thuê và sử dụng vào mục đích gì thì ông Phan Thế A1 hoàn toàn không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe trên cho ông Phan Thế A1.

* Đối với số thuốc lá điếu nhập lậu và thuốc lá điếu giả nói trên và vật chứng liên quan, cần tịch thu tiêu hủy gồm:

  • - 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Craven A, 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu ZOUK, 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Menthol, 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Lights và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Gold) (thu của Đ1 trên đường mua về để bán)
  • - 2690 bao thuốc lá điếu nhập lậu (bao gồm: 1800 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, 600 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, 190 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Gold và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott) và 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SAIGON Silver (nghi giả) (thu của T trên đường đi bán)
  • - 11.680 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 3.360 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet màu trắng; 360 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet màu vàng; 1.470 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Gold; 1.450 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero; 790 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse menthol; 560 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse Classic; 520 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse Coold; 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse light; 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Mond Variance; 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Canyon; 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott; 320 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse (trúc); 1.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse change; 430 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Mandarin; 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Zouk; 1.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SAIGON Silver; 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 State Express; 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Craven Classic (loại lớn); 1000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Craven DEMI (loại nhỏ); 1.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu White Horse;
  • - 05 bịch nylon màu đen;
  • - 03 cuộn băng keo;
  • - 02 cái dao rọc giấy;
  • - 10 thùng giấy carton hiệu Staft.

* Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Model CPH 2325 có gắn sim số 0389415917 (thu của bị cáo Phạm Nhật T2); 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 11 Promax màu đen số máy MWH72LL/A có gắn sim số 0945681639 và 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax số máy MLKP3LL/A (thu giữ của Võ Đức Quốc T), sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu điện thoại sung Ngân sách Nhà nước điện thoại, tịch thu tiêu hủy đối với sim số.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi như cáo trạng truy tố, các bị cáo không tranh luận, không bào chữa cho hành vi phạm tội, trong phần nói lời sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Nguyên đơn dân sự Công ty T8 và Tập đoàn B1 – A – Văn phòng Đ3 (Singapore) Pre Ltd tại Thành phố Hồ Chí Minh có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn dân sự.

[2] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo; nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng kiến; biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 02/8/2023, biên bản khám xét ngày 02/8/2023; các Kết luận giám định, Kết luận định tài sản và những chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ sơ vụ án, xác định:

Ngày 02/8/2023, tại địa bàn thành phố D, tỉnh Bình Dương và địa bàn thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Võ Đức Quốc T bán cho Đỗ Bá Hoàng Vĩnh Đ1 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Craven A, 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu ZOUK, 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Menthol, 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Lights và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Gold); chở đi bán 2690 bao thuốc lá điếu nhập lậu (bao gồm: 1800 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, 600 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, 190 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Gold và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott); cất giữ 11.680 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhằm để bán lại kiếm lời (gồm: 3.360 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet màu trắng; 360 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet màu vàng; 1.470 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Gold; 1.450 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero; 790 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse menthol; 560 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse Classic; 520 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse Coold; 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse light; 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Mond Variance; 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Canyon; 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott; 320 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse (trúc); 1.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse change; 430 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Mandarin; 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Zouk) để bán; cất giữ 1.500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SAIGON Silver giả; 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 State Express giả; 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Craven Classic (loại lớn) giả; 1000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Craven DEMI (loại nhỏ) giả; 1.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu White Horse giả, có tổng giá trị tương đương với hàng thật là 92.500.000 đồng.

Phạm Nhật T2 vận chuyển 2980 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero và J từ Cửa khẩu T, Campuchia giao cho Võ Đức Quốc T tại địa chỉ số B khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Hành vi của bị cáo Võ Đức Quốc T mua bán thuốc lá điếu nhập lậu với tổng cộng 15.170 bao, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đồng thời hành vi của bị cáo T mua bán thuốc lá giả có tổng giá trị tương đương với hàng thật là 92.500.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng giả” theo quy định điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi vận chuyển 2980 bao thuốc lá điếu nhập lậu của bị cáo Phạm Nhật T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số: 170/CT - VKS-DA ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng và rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông (kinh doanh). Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi buôn bán hàng cấm, buôn bán hàng giả và vận chuyển hàng cấm là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Võ Đức Quốc T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Phạm Nhật T2 có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội mới với lỗi cố ý nên bị cáo T2 phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Phạm Nhật T2 đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[8] Về nhân thân: Bị cáo Võ Đức Quốc T là người có nhân thân tốt thể hiện các bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và là người lao động; bị cáo T đang nuôi các con nhỏ. Bị cáo Phạm Nhật T2 có nhân thân xấu thể hiện bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[9] Về hình phạt:

  • - Hình phạt chính: Xét các bị cáo phạm tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm lưu thông, hành vi phạm tội của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
  • - Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”; tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm” và theo khoản 4 Điều 192 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[10] Xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Craven A, 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu ZOUK, 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Menthol, 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Lights và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Gold) (thu của Đ1 trên mua về để bán); 2690 bao thuốc lá điếu nhập lậu (bao gồm: 1800 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, 600 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, 190 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Gold và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott) và 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SAIGON Silver (nghi giả) (thu của T trên đường đi bán) và 11.680 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 3.360 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet màu trắng; 360 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet màu vàng; 1.470 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Gold; 1.450 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero; 790 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse menthol; 560 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse Classic; 520 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse Coold; 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse light; 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Mond Variance; 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Canyon; 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott; 320 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse (trúc); 1.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse change; 430 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Mandarin; 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Zouk; 1.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SAIGON Silver; 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 State Express; 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Craven Classic (loại lớn); 1000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Craven DEMI (loại nhỏ); 1.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu White Horse; 05 bịch nylon màu đen; 03 cuộn băng keo; 02 cái dao rọc giấy; 10 thùng giấy carton hiệu Staft.
  • - Xét 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Model CPH 2325 có gắn sim số 0389415917 (thu của bị cáo Phạm Nhật T2); 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 11 Promax màu đen số máy MWH72LL/A có gắn sim số 0945681639 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax số máy MLKP3LL/A (thu giữ của Võ Đức Quốc T), sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Model CPH 2325; 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 11 Promax màu đen số máy MWH72LL/A; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax số máy MLKP3LL/A và tịch thu tiêu hủy đối với các sim số 0389415917, 0945681639.
  • - Đối với xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Accent màu đỏ, biển số 72A-490.05 do ông Hà V, sinh năm 1981; thường trú: Khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đứng tên sở hữu; xe ô tô trên do ông V mua mới và về để sử dụng, sau đó cho Võ Đức Q Trung liên hệ để thuê để chở khách thuê, T sử dụng làm phương tiện phạm tội ông V không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả xe cho ông V và đối với xe ô tô biển số 51G-50484 hiệu KIA, số loại: Cerato màu trắng là ông Phan Thế A1, sinh năm 1987; thường trú: Số A đường T, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên sở hữu. Ngày 02/6/2023, ông Phan Thế A1 đã cho Công ty TNHH T9, địa chỉ: Số D T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thuê để sử dụng. Tiếp tục làm việc với ông Nguyễn Tuấn A2, sinh năm 1985; thường trú Số D T, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là giám đốc của Công ty TNHH T9, xác định sau khi Công ty TNHH T9 thuê xe của ông Phan Thế A1 thì Công ty TNHH T9 tiếp tục cho ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1988, thường trú: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh vào ngày 05/7/2023 để ông Nguyễn Văn T5 sử dụng. Hiện tại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D chưa làm việc được với ông Nguyễn Văn T5. Do vậy, đây là tài sản hợp pháp của ông Phan Thế A1 và ông Phan Thế A1 chỉ cho Công ty TNHH T9 thuê xe để sử dụng, còn việc Công ty TNHH T9 cho ai thuê và sử dụng vào mục đích gì thì ông Phan Thế A1 hoàn toàn không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe trên cho ông Phan Thế A1 nên không đặt ra xem xét.
  • [11] Đối với 02 biển với biển số xe 51G-327.86 và biển số xe 51K-365.92, quá trình điều tra xác định như sau:
    • - Ông Nguyễn Trung T6, sinh năm 1952; thường trú: Số C A, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh là chủ sở hữu của xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, biển số 51K-365.92, ông Nguyễn Trung T6, xác định: Ông T6 mua xe và đăng ký xe cho đến nay thì ông vẫn sử dụng xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, biển số 51K-365.92. Quá trình sử dụng ông T6 không cho ai mượn biển số 51K-365.92 và ông T6 cũng không biết, biển số xe của ông bị làm giả.
    • - Công ty TNHH H4, địa chỉ: Số C đường M, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội đứng tên chủ sở hữu để đăng ký cho ô tô nhãn hiệu Toyota Yaris biển kiểm soát 51G-327.86. Tuy nhiên, tiến hành xác minh tại Công an phường M, quận H, Thành phố Hà Nội xác định tại số C M, phường M, quận H, Thành phố Hà Nội không có Công ty TNHH H4 đặt trụ sở hoạt động kinh doanh.
  • [12] Đối với ông Đỗ Bá Hoàng Vĩnh Đ1 chỉ thực hiện mua bán tổng cộng 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu, chưa đủ định lượng để xử lý hình sự và chưa có tiền án, tiền sự nên Ủy ban nhân dân thành phố D, tỉnh Bình Dương ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Đỗ Bá Hoàng Vĩnh Đ1 về hành vi Buôn bán hàng cấm là 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu với số tiền là 40.000.000 đồng theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 8 Nghị định 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ; đối với bà Nguyễn Thị Út C, sinh năm 1985; thường trú: Khu phố B, phường H, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, qua xác minh, xác định: Bị cáo Võ Đức Quốc T và Nguyễn Thị Út C là vợ chồng và cùng thuê nhà sinh sống tại địa chỉ số B khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình sống chung, Nguyễn Thị Út C có thấy Võ Đức Quốc T buôn bán thuốc lá nhưng do thấy thuốc lá Việt Nam và nghe T nói bán thuốc lá Việt Nam nên Út C không để ý đến việc kinh doanh của T mà chỉ tập trung đi làm phụ một người cô tên H3 ở chợ A3, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương từ sáng đến tối mới về nhà, sau đó chăm sóc con. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Út C cũng không biết chữ và cũng không sử dụng điện thoại. Lý do Võ Đức Quốc T sử dụng tài khoản Ngân hàng số 1987366666666 thuộc Ngân hàng M2 của Nguyễn Thị Út C để mua bán thuốc lá với Đ2 bởi vì tài khoản Ngân hàng của T bị lỗi nên không thể sử dụng được và từ đó T sử dụng số tài khoản của NGUYEN THI UT CHI. Bà Nguyễn Thị Út C không đồng phạm với Võ Đức Quốc T, về hành vi Buôn bán hàng cấm, Buôn bán hàng giả nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương không đề cập xử lý; đối với ông Lê Hữu T7, sinh năm 1986; thường trú: Số B khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Số G đường số H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh là chủ căn nhà nơi Võ Đức Quốc T thuê để ở, ông T7 hoàn toàn không biết việc Võ Đức Quốc T thuê nhà mình để làm nơi chứa chấp, buôn bán hàng cấm nên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương không đề cập xử lý, là đúng theo quy định của pháp luật.
  • [13] Đối với số tài khoản 0388813882, chủ tài khoản là Nguyen T và số tài khoản số 0862899180, chủ tài khoản là Tran N có liên quan đến việc Buôn bán hàng cấm của Võ Đức Quốc T, quá trình điều tra kết quả như sau:
    • - Số tài khoản 0388813882 thuộc Ngân hàng V1 do Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 24/02/2002, CCCD số: [...]; thường trú: Số nhà E ấp V, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An mở để sử dụng.
    • - Số tài khoản 0862899180 thuộc Ngân hàng V1 do Trần Nhựt L, sinh ngày 31/3/2000, CCCD số: [...]; thường trú: Số nhà A, ấp M, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An mở để sử dụng.

    Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiến hành xác minh tại Công an xã M, huyện Đ, tỉnh Long An xác định Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 24/02/2002, CCCD số: [...] và Trần Nhựt L, sinh ngày 31/03/2000, CCCD số: [...] đều có đăng ký hộ khẩu thường trú như trên tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Tuy nhiên, hiện tại Nguyễn Tuấn K và Trần Nhựt L không còn sinh sống tại địa phương, đi đâu không rõ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục thu thập thông tin, xác minh nhân thân và nơi ở của Nguyễn Tuấn K, Trần Nhựt L xử lý theo quy định của pháp luật.

  • [14] Đối với Phạm Nhật T2 khai nhận đã vận chuyển thuốc lá nhập lậu cho Võ Đức Quốc T 02 lần trước đó, nhưng T không thừa nhận, không rõ vận chuyển thuốc lá số lượng bao nhiêu, không có chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ xử lý Phạm Nhật T2 những lần vận chuyển hàng cấm trước đó và đối với tên B, tên gọi khác là Đ2 (có tên fecabook là Đạt L1), hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau, là đúng theo quy định của pháp luật.
  • [15] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra đối với các bị cáo về điều luật áp dụng, mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như xử lý vật chứng là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.
  • [16] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Võ Đức Quốc T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” và “Buôn bán hàng giả”. Bị cáo Phạm Nhật T2 phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
    1. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 190; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017

      - Xử phạt bị cáo Võ Đức Quốc T 08 (tám) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”.

      1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 192; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

        - Xử phạt bị cáo Võ Đức Quốc T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Buôn bán hàng giả”.

      2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

        Tổng hợp hình phạt cả 02 tội, buộc bị cáo Võ Đức Quốc T phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 02/8/2023.

    2. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017

      - Xử phạt bị cáo Phạm Nhật T2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2023, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 02/8/2023 đến ngày 05/8/2023.

  2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Craven A, 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu ZOUK, 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Menthol, 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Lights và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu Esse Gold) (thu của Đ1 trên đường mua về để bán); 2690 bao thuốc lá điếu nhập lậu (bao gồm: 1800 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, 600 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero, 190 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Gold và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott) và 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SAIGON Silver (nghi giả) (thu của T trên đường đi bán) và 11.680 bao thuốc lá điếu nhập lậu, gồm: 3.360 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet màu trắng; 360 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet màu vàng; 1.470 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Gold; 1.450 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Hero; 790 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse menthol; 560 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse Classic; 520 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse Coold; 800 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse light; 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Mond Variance; 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Canyon; 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Scott; 320 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse (trúc); 1.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Esse change; 430 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu 555 Mandarin; 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Zouk; 1.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu SAIGON Silver; 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu 555 State Express; 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Craven Classic (loại lớn); 1000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Craven DEMI (loại nhỏ); 1.000 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu White Horse; 05 bịch nylon màu đen; 03 cuộn băng keo; 02 cái dao rọc giấy; 10 thùng giấy carton hiệu Staft; các sim điện thoại số 0389.415.xxx, 0945681639.
    • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo Model CPH 2325; 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 11 Promax màu đen số máy MWH72LL/A và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax số máy MLKP3LL/A.

      (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/5/2024 giữa giữa Công an thành phố D với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Võ Đức Quốc T và Phạm Nhật T2, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 336/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự

  • Số bản án: 336/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger