TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 336/2024/HS-ST Ngày: 15/11/2024 | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Đôn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Vũ Hà, ông Hồ Xuân Giao.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Bình – Thư ký Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 318/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 326/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị B; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 10 tháng 01 năm 1995 tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố D, Phường T, Tp .; tỉnh Đắk Lắk;
Nơi ở hiện nay: Số A N, Phường T, Tp .; tỉnh Đắk Lắk;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do;
Trình độ học vấn: 06/12,
Con ông: Trần Văn Q (đã chết); Con bà: Huỳnh Thị G, sinh năm 1966. Có 01 con sinh năm 2010.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/07/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Họ và tên: Nguyễn Tuấn K; Giới tính: Nam; Sinh ngày 23 tháng 10 năm 1996, tại tỉnh Đắk Lắk;
Nơi ĐKHKTT và chổ ở: Thôn C, xã H, Tp .; tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không Nghề nghiệp: Tự do;
Trình độ học vấn: 12/12.
Con ông: Nguyễn Tuấn K1, sinh năm 1973, con bà Bùi Thị C, sinh năm 1975.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/07/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Võ Thị Trà M, sinh năm 2006. Trú tại: C Y, buôn P, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
Ông Bùi Văn H, sinh năm 1970. Trú tại: Thôn C, xã H, Tp .; tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
- Người chứng kiến:
Ông Lê Văn H1. Sinh năm 2005. Trú tại: Buôn P, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
Ông Y Lương Ê. Sinh năm 2001. Trú tại: Buôn P, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau: Trần Thị B và Nguyễn Tuấn K có quan hệ bạn bè và cùng là người sử dụng ma túy, loại M1 (hay còn gọi là ma túy đá). Vào khoảng 21 giờ ngày 01/7/2024, K đến phòng trọ của B tại địa chỉ số A N, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk để chơi. Tại đây, K và B thỏa thuận mua ma túy đá về để cùng sử dụng. Sau đó, B sử dụng điện thoại di động kiểu dáng Samsung, màu xanh, đăng nhập vào tài khoản ví điện tử Momo tên Trần Thị B, số điện thoại 0935.895.xxx chuyển số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng) đến tài khoản ví điện tử Momo của K số điện thoại 0372.431.xxx để mua ma túy đá. Sau khi nhận được tiền, K sử dụng điện thoại của B liên hệ với người nam giới tên thường gọi là S (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), sử dụng số điện thoại 0928.912.xxx, hỏi mua 450.000₫ (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng) ma túy đá. S đồng ý bán và yêu cầu K chuyển trước tiền mua ma túy cho S qua số tài khoản ngân hàng V 0797791234 mang tên Vo Thi Tra M2. K sử dụng điện thoại di động kiểu dáng Huawei, màu xanh đăng nhập tài khoản ví điện tử Momo của K chuyển khoản cho S số tiền 450.000₫ (Bốn trăm năm mươi ngàn đồng). Sau đó, S hẹn K đến khu vực hẻm E T, phường T, Tp . để mua, bán ma túy. K điều khiển xe môtô biển kiểm soát 47P6-6345 chở theo Báu đến điểm hẹn, gặp 02 (hai) người nam giới (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đi xe môtô (chưa xác định biển kiểm soát) hướng dẫn đến lấy ma túy tại khu vực hẻm E T, phường T, Tp .. Khi mua được ma túy, K cầm trong lòng bàn tay rồi đưa cho B cất giấu và điều khiển xe môtô 47P6-6345 chở theo B đi tìm thuê nhà nghỉ để cùng nhau sử dụng. Khi Trần Thị B và Nguyễn Tuấn K đến trước số nhà H Đ, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Kết quả xét nghiệm đối với Trần Thị B, Nguyễn Tuấn K là dương tính với chất
ma túy loại Amphetamin/Methamphetamin.
Tại Bản kết luận giám định số: 985/KL-KTHS ngày 09 tháng 7 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận.
Chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2965gam loại: Methamphetamine.
H2 lại đối tượng gửi giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,2538gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.
Tại Bản Kết luận giám định số 1309/KL-KTHS ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận: 01 xe mô tô mang biển số: 47P6-6345, có số khung: RLCS5C630Y312003; không thay đổi, số máy: 5C63-312062 không thay đổi; biển số: Biển số thật.
Các đồ vật, tài liệu bị tạm giữ:
01 (Một) một ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong có chất rắn dạng tinh thể màu trắng, được niềm phong trong một bì thư, có chữ ký xác nhận, ghi họ tên của Nguyễn Tuấn K, Trần Thị B, Y Lương Ê, Lê Văn H1, Nguyễn Bá T ( Điều tra viên) và đóng dấu tròn màu đỏ của Công an phường T – Công an T1 - T, tỉnh Đắk Lắk.
01 (Một) điện thoại di động, kiểu dáng: SAMSUNG, màu: Xanh, số imei: 354556100222614, găn sim 0935895744. Tình trạng máy cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chỉ tiết bên trong
01 (Một) điện thoại di động, kiểu dáng: HUAWEI, màu: Xanh, số imei: 867615049006205, không găn sim. Tình trạng máy đã qua sử dụng.
01 (Một) xe mô tô, nhãn hiệu: YAMAHA, mang biển số: 47P6 - 6345. Tình trạng xe cũ đã qua sử dụng.
Tại bản cáo trạng số 325/CT-VKSTP.BMT ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Trần Thị B và Nguyễn Tuấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa luận tội và tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thị B và Nguyễn Tuấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thị B từ 01 năm 06 tháng – 02 năm tù.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 01 năm 06 tháng – 02 năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015.
Đề nghị tịch thu, tiêu huỷ: 0,2538 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định trong phong bì niêm phong số 985/KL-KTHS của Phòng K2 - Công an tỉnh Đ, ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Trần Thị B -BMT”, có các chữ ký ghi tên Lê Khắc N, Nguyễn Thị Thanh N1 và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng K2 công an tỉnh Đ.
Tịch thu, sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung, màu xanh, số Imei: 354556100222614 kèm sim số 0935895744 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Huawei, màu xanh, số Imei: 867615049006205, không gắn sim, đã qua sử dụng của Trần Thị B và Nguyễn Tuấn K sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
Đối với xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát: 47P6-6345, số khung: RLCS5C630AY312003; số máy: 5C63-312062. Quá trình điều tra xác định xe mô tô mang biển kiểm soát 47P6-6345 là tài sản hợp pháp của ông Bùi Văn H, sinh năm 1970, trú tại Thôn C, xã H, Tp ., tỉnh Đắk Lắk (bác của bị cáo K). Qúa trình điều tra xác định: Ngày 01/7/2024, Nguyễn Tuấn K mượn chiếc xe mô tô trên của ông H để làm phương tiện đi lại rồi sử dụng thực hiện hành vi phạm tội, ông H không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo K. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an T2 ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe môtô trên cho ông Bùi Văn H quản lý, sử dụng và không đề cập xử lý trách nhiệm đối với ông H.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và nói lời sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật. Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo có cơ hội sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an T2, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2]. Xét lời khai của các bị cáo Trần Thị B và Nguyễn Tuấn K tại phiên tòa là phù hợp nhau. Phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp lời khai của người chứng kiến, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Do ý thức coi thường pháp luật nên ngày 01/7/2024 bị cáo Trần thị B và Nguyễn Tuấn K đã có hành vi mua và tàng trữ trái phép 0.2965 gam chất ma tuý, loại
Methamphetamine, cất dấu với mục đích để cùng sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang tại địa chỉ H Đ, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk
Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận Trần Thị B và Nguyễn Tuấn K phạm tội phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[3] Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo Trần Thị B và Nguyễn Tuấn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 249 BLHS quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
...
c) Heroine Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước đối với chất ma tuý, là nguyên nhân trực tiếp gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, là nguyên nhân lây lan căn bệnh HIV – AIDS, gia tăng các tệ nạn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người đủ khả năng nhận thức và buộc phải biết chất ma tuý được Nhà nước thống nhất quản lý, mọi hành vi sử dụng, tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy đều bị pháp luật trừng trị. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật mà các bị cáo đã mua và tàng trữ trái phép chất ma túy với mục đích sử dụng. Vì vậy, HĐXX xét thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa tình hình tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần áp dụng cho các bị cáo khi quyết định hình phạt.
Xét thấy trong vụ án này các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đồng phạm giản đơn, bị cáo B góp số tiền 450.000đ để mua ma tuý, bị cáo K liên hệ người mua ma tuý và chở B đi mua ma tuý. Hội đồng xử xét thấy tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân của các bị cáo là ngang nhau nên cần quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo bằng nhau là phù hợp.
[5] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Thị B, Nguyễn Tuấn K, Công an thành phố T2 lập biên bản vi phạm hành chính và ra Quyết định xử phạt
vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ.
Đối với nguồn gốc số ma túy trong vụ án, Nguyễn Tuấn K khai nhận mua của một người nam giới, tên thường gọi là S, sử dụng số điện thoại 0928.912.xxx và số tài khoản ngân hàng V 0797791234 mang tên Vo Thi Tra M2. Cơ quan CSĐT có công văn gửi đến Công ty Cổ phần V1 nhưng đến nay chưa nhận được văn bản phúc đáp. Tài khoản ngân hàng số 0797791234 tại Ngân hàng V do chị Võ Thị Trà M, sinh ngày 02/02/2006, trú tại Buôn P, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk, đăng ký chủ sở hữu. Tại cơ quan CSĐT, chị Võ Thị Trà M khai nhận: Vào năm 2023, chị M có quen biết người nam giới tên thường gọi là S (chưa xác định được nhân thân, lai lịch), S có nhờ M đăng ký giúp S một tài khoản Ngân hàng để sử dụng thì M đồng ý. Sau đó, M đến Ngân hàng V để mở tài khoản ngân hàng số 0797791234 rồi cung cấp số tài khoản và mật khẩu đăng nhập tài khoản cho S sử dụng. Chị M không biết mục đích S sử dụng tài khoản Ngân hàng trên để giao dịch bán ma túy. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT chưa xác định được nhân thân, lai lịch của S và 02 đối tượng nam giới giao ma túy cho bị cáo K nên tách hành vi của các đối tượng nam giới nêu trên ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau và không đề cập xử lý đối với bà Võ Thị Trà M.
[6]. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu, tiêu huỷ: 0,2538 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định trong phong bì niêm phong số 985/KL-KTHS của Phòng K2 - Công an tỉnh Đ, ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Trần Thị B -BMT”, có các chữ ký ghi tên Lê Khắc N, Nguyễn Thị Thanh N1 và đóng dấu tròn màu đỏ Phòng K2 công an tỉnh Đ.
Tịch thu, sung công quỹ: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung, màu xanh, số Imei: 354556100222614 kèm sim số 0935895744 đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Huawei, màu xanh, số Imei: 867615049006205, không gắn sim, đã qua sử dụng của Trần Thị B và Nguyễn Tuấn K sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.
Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT - Công an T2 ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe môtô biển kiểm soát: 47P6-6345 cho ông Bùi Văn H quản lý, sử dụng và không đề cập xử lý trách nhiệm đối với ông H là phù hợp.
[7]. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị B và Nguyễn Tuấn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Thị B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 01/07/2024.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 01/07/2024.
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên tịch thu, tiêu huỷ: 0,2538 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định trong phong bì số 985/KL-KTHS của Phòng K2 - Công an tỉnh Đ, phong bì ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Trần Thị B -BMT”, có các chữ ký ghi tên xác nhận của Nguyễn Thị Thanh N1, Lê Khắc N và đóng dấu tròn đỏ của Phòng K2 công an tỉnh Đ.
Tịch thu, sung công quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung, màu xanh, số Imei: 354556100222614 đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong; 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Huawei, màu xanh, số Imei: 867615049006205, vỡ màn hình, đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng hoạt động và chi tiết bên trong.
Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT - Công an T2 ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe môtô biển kiểm soát: 47P6-6345 cho ông Bùi Văn H quản lý, sử dụng là phù hợp.
(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột, ngày 17/10/2024).
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Trần Thị B, Nguyễn Tuấn K, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Trần Đôn |
Bản án số 336/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 336/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐĂK LĂK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị B và Đỗ Tuấn K bị xx về tội tàng trự trái phép chất ma tuý
