|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 336/2024/DS-ST Ngày: 30/9/2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải An.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thanh Trung.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Ánh - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Diễm Linh – Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 531/2024/TLST- DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 362/2024/QĐXXST- DS ngày 30 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1.
Địa chỉ: Số x đường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện: Ông Văn Ngọc S (Có mặt).
Địa chỉ: Số I T, thành phố B, tỉnh ĐắkLắk.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số A G, thành phố B, tỉnh ĐắkLắk.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Lê Long D (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số A P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Trung L và Bà Lê Thị T có vay vốn tại Ngân hàng TMCP S1 (S2) theo Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 243/2022/HDHM-CN/SHB.121000 ngày 17/6/2022: Giá trị hạn mức vay vốn: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng). Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán các loại sơn, bột trét tường. Thời hạn duy trì Hạn mức vay vốn: 12 tháng từ ngày 17/6/2022 đến ngày 17/6/2023. Thời hạn của khoản vay: Thời hạn của mỗi khoản vay trong Hạn mức vay vốn được quy định cụ thể tại Khế ước nhận nợ nhưng tối đa không quá 06 tháng. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay trong 03 tháng đầu kể từ ngày giải ngân: 13.7%/năm. Lãi suất vay trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh 3 tháng/lần. Tại thời điểm điều chỉnh, lãi suất cho vay được tính bằng lãi suất cơ sở VNĐ có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) với biên độ cho vay là 3.5%/năm. Lãi suất áp dụng với nợ gốc quá hạn: Trường hợp khoản vay bị chậm thanh toán nợ gốc đến hạn, bên vay phải trả lãi trên dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điêm no gốc bị quá hạn thanh toán và được tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với số ngày thực tế chậm trả gốc. Lãi phạt chậm trả lãi: Trường hợp bên vay không thanh toán lãi đúng hạn thì bên vay phải trả lãi chậm trả cho Bên cho vay theo mức lãi suất chậm trả lãi = 50% lãi suất trong hạn nhưng không vượt quá 10%/năm và được tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm trả lãi.
Về tài sản bảo đảm cho khoản vay: Hai bên lý kết Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 135/2022/HĐTC- CN/SHB.121000 ngày 17/6/2022 đã được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Đắk Lắk theo số Công chứng 00010805, quyển số 03/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/6/2022 và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Đắk Lắk- ngày 17/6/2022. Cụ thể: Thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 499 (Tách từ thửa 55), tờ bản đồ số 3, địa chỉ: Thôn A, Xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD010624 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 06/5/2022 (Cập nhật biến động chuyển nhượng cho Ông Nguyễn Trung L và Bà Lê Thị T ngày 13/5/2022).
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng và phát sinh nợ: Ông Nguyễn Trung L và Bà Lê Thị T đã rút vốn vay tại Ngân hàng TMCP S1 với tổng số tiền là: 1.300.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ ba trăm triệu đồng) thể hiện qua Khế ước nhận nợ số 02- 243/2022/HDHM-CN/SHB.121000 ngày 22/11/2022.
Trong quá trình vay vốn, Ông Nguyễn Trung L và Bà Lê Thị T chưa trả được số tiền gốc nào, số tiền lãi đã trả là: 59.052.055 đồng. Do vậy, ông L và bà T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng S2 đề nghị Tòa án Nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột buộc ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T số tiền nợ gốc là 1.300.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 340.237.058 đồng. Tiếp tục tính lãi và các loại phí phát sinh theo Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 243/2022/HDHM- CN/SHB.11000 ngày 17/6/2022 đã ký kết kể từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trong trường hợp Ông Nguyễn Trung L và Bà Lê Thị T không trả được nợ, đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của Ông Nguyễn Trung L và Bà Lê Thị T.
Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn trình bày:
Ngày 17/6/2022, ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T có vay vốn tại Ngân hàng TMCP S1 (S2) theo Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 243/2022/HDHM- CN/SHB.121000 ngày 17/6/2022: Giá trị hạn mức vay vốn: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng). Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán các loại sơn, bột trét tường. Thời hạn duy trì Hạn mức vay vốn: 12 tháng từ ngày 17/6/2022 đến ngày 17/6/2023. Về tài sản bảo đảm cho khoản vay: Hai bên lý kết Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 135/2022/HĐTC- CN/SHB.121000 ngày 17/6/2022 đã được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Đắk Lắk theo số Công chứng 00010805, quyển số 03/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/6/2022 và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Đắk Lắk- ngày 17/6/2022. Cụ thể: Thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 499 (Tách từ thửa 55), tờ bản đồ số 3, địa chỉ: Thôn A, Xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD010624 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 06/5/2022 (Cập nhật biến động chuyển nhượng cho Ông Nguyễn Trung L và Bà Lê Thị T ngày 13/5/2022).
Quá trình nhận nợ, ông L và bà T đã rút vốn tại ngân hàng với số tiền 1.300.000.000 đồng thể hiện qua khế ước nhận nợ số 02-243/2022/HĐHM-CNSHB 121.000 ngày 22/11/2022.
Tuy nhiên, quyền sử dụng đất này vợ chồng ông bà chỉ đứng tên thay cho ông Nguyễn Lê Long D. Đây là tài sản riêng của ông Nguyễn Lê Long D. Trong quá trình kinh doanh, ông D bị xác định là nợ xấu nên đã nhờ vợ chồng ông bà đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực hiện vay vốn giúp ông D số tiền 1.300.000.000 đồng tại Ngân hàng S2. Sau khi rút vốn về, ông bà đã đưa toàn bộ số tiền này cho ông D, lãi hàng tháng là do ông Dương Đ. Đến tháng 4/2023, do trục trặc về kinh tế nên ông D không đóng lãi cho Ngân hàng nữa.
Nay Ngân hàng khởi kiện thì ông bà đề nghị Ngân hàng hỗ trợ giảm các phí, lãi suất để ông Nguyễn Trung L, bà Lê Thị T và ông Nguyễn Lê Long D có hướng xử lý tài sản để trả cho Ngân hàng. Thực tế, ông bà không được nhận bất cứ số tiền nào từ ông Nguyễn Lê Long D.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Lê Long D trình bày:
Tôi có nhờ anh Nguyễn Trung L và chị Lê Thị T đứng tên vay vốn tại Ngân hàng TMCP S1. Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 243/2022/HDHM- CN/SHB.121000 ngày 17/6/2022. Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán các loại sơn, bột trét tường.
Về tài sản bảo đảm cho khoản vay: Hai bên lý kết Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 135/2022/HĐTC- CN/SHB.121000 ngày 17/6/2022 đã được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Đắk Lắk theo số Công chứng 00010805, quyển số 03/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/6/2022 và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Đắk Lắk- ngày 17/6/2022. Cụ thể: Thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 499 (Tách từ thửa 55), tờ bản đồ số 3, địa chỉ: Thôn A, Xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD010624 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 06/5/2022.
Quá trình vay nợ, ông L và bà T đã rút vốn tại Ngân hàng với tổng số tiền là 1.300.000.000 đồng. Ông L và bà T đã giao toàn bộ số tiền này lại cho tôi để sử dụng vào mục đích kinh doanh và các nhân. Trong quá trình vay, tôi đã trả toàn bộ số tiền lãi cho ngân hàng đến tháng 3/2023. Đến thời điểm này, do kinh doanh thua lỗ nên mất khả năng thanh toán lãi cho ông L và bà T để ông bà trả tiền cho Ngân hàng.
Nay Ngân hàng khởi kiện thì đề nghị ngân hàng H để tôi có thể thanh toán được tiền cho ông L và bà T để ông bà trả tiền cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột đã phát biểu quan điểm việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về nội dung:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 147, điểm a khoản 1 Điều 220; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S1 tổng số tiền nợ gốc là: 1.300.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 340.237.058 đồng. Tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ. Trường hợp ông L và bà T không thanh toán được khoản vay thì tài sản đã thế chấp được xử lý để thu hồi khoản vay theo quy định của pháp luật.
- Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện là “Tranh chấp hợp đồng dân sự” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Ngày 17/6/2022, giữa Ngân hàng TMCP S1 với bà Lê Thị T và ông Nguyễn Trung L có ký kết hợp đồng vay vốn theo hợp đồng cho vay số 243/2022/HDHM-CN/SHB.121000. Theo đó, các bên thỏa thuận giá trị hạn mức vay vốn: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng). Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh mua bán các loại sơn, bột trét tường. Thời hạn duy trì Hạn mức vay vốn: 12 tháng từ ngày 17/6/2022 đến ngày 17/6/2023. Thời hạn của khoản vay: Thời hạn của mỗi khoản vay trong Hạn mức vay vốn được quy định cụ thể tại Khế ước nhận nợ nhưng tối đa không quá 06 tháng. Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay trong 03 tháng đầu kể từ ngày giải ngân: 13.7%/năm. Lãi suất vay trong hạn: Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh 3 tháng/lần. Tại thời điểm điều chỉnh, lãi suất cho vay được tính bằng lãi suất cơ sở VNĐ có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh cộng (+) với biên độ cho vay là 3.5%/năm. Lãi suất áp dụng với nợ gốc quá hạn: Trường hợp khoản vay bị chậm thanh toán nợ gốc đến hạn, bên vay phải trả lãi trên dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điêm no gốc bị quá hạn thanh toán và được tính trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với số ngày thực tế chậm trả gốc. Lãi phạt chậm trả lãi: Trường hợp bên vay không thanh toán lãi đúng hạn thì bên vay phải trả lãi chậm trả cho Bên cho vay theo mức lãi suất chậm trả lãi = 50% lãi suất trong hạn nhưng không vượt quá 10%/năm và được tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với số ngày thực tế chậm trả lãi.
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng: Ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T đã rút vốn vay tại Ngân hàng TMCP S1 với tổng số tiền là: 1.300.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ ba trăm triệu đồng) thể hiện qua Khế ước nhận nợ số 02- 243/2022/HDHM-CN/SHB.121000 ngày 22/11/2022 và đã thanh toán được 59.052.055 đồng tiền lãi.
Căn cứ theo Khế ước nhận nợ số 02-243/2022/HDHM-CN/SHB.121000 ngày 22/11/2022, Điều 7, Điều 9, Điều 10, Điều 12 của Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn thì khoản vay của ông L và bà T đã chuyển nợ quá hạn từ ngày 22/5/2023. Tính đến ngày 30/9/2024, bà Lê Thị T và ông Nguyễn Trung L còn nợ lại của Ngân hàng số tiền nợ gốc là 1.300.000.000 đồng, tiền lãi là 340.237.058 đồng.
[2.2] Về tài sản bảo đảm cho khoản vay:
Hai bên lý kết Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 135/2022/HĐTC- CN/SHB.121000 ngày 17/6/2022 đã được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Đắk Lắk theo số Công chứng 00010805, quyển số 03/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/6/2022 và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Đắk Lắk- ngày 17/6/2022. Cụ thể: Thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 499 (Tách từ thửa 55), tờ bản đồ số 3, địa chỉ: Thôn A, Xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD010624 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 06/5/2022 (Cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung L và Bà Lê Thị T ngày 13/5/2022).
Việc đăng ký thế chấp đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
[2.3] Xét ý kiến của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về việc xác định: Ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T chỉ là người đứng tên thay cho ông Nguyễn Lê Long D trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng và trên Hợp đồng tín dụng đối với Ngân hàng, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đây là thoả thuận riêng giữa ông Nguyễn Trung L, bà Lê Thị T và ông Nguyễn Lê Long D. Các bên không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh giữa ông Nguyễn Trung L, bà Lê Thị T, ông Nguyễn Lê Long D với Ngân hàng TMCP S1 có thoả thuận hoặc Ngân hàng biết về việc ông L, bà T đứng tên giùm trên Giấy chứng nhận cũng như trên các Hợp đồng và ông Nguyễn Lê Long D là người có nghĩa vụ trả nợ.
Mặt khác, quá trình xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thì thửa đất nêu trên hiện nay không có ai sinh sống trên đất. Do vậy, người có nghĩa vụ thanh toán số tiền 1.300.000.000 đồng theo Hợp đồng cấp hạn mức số 243/2022/HDHM- CN/SHB.121000 và Khế ước nhận nợ số 02-243/2022/HDHM-CN/SHB.121000 ngày 22/11/2022 cho Ngân hàng TMCP S1 là ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T.
Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 135/2022/HĐTC- CN/SHB.121000 ngày 17/6/2022 đã được công chứng tại Văn phòng C, tỉnh Đắk Lắk theo số Công chứng 00010805, quyển số 03/2022/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 17/6/2022 và đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K, tỉnh Đắk Lắk- ngày 17/6/2022 thì Ngân hàng là người ngay tình nên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên có hiệu lực.
Từ các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T có quyền khởi kiện ông Nguyễn Lê Long D đối với giao dịch giữa các bên bằng vụ án dân sự khác.
[3] Về án phí và các chi phí tố tụng khác: Vì yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận thì bị đơn phải chịu án phí và các chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm a khoản 1 Điều 220, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
- Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 21/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S1.
Buộc ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền nợ gốc là 1.300.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là 340.237.058 đồng. Tiếp tục tính lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký từ ngày 01/10/2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
Sau khi ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T thực hiện xong nghĩa vụ thì Ngân hàng TMCP S1 phải trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DD010624 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 06/5/2022 (Cập nhật biến động chuyển nhượng cho ông Nguyễn Trung L và Bà Lê Thị T ngày 13/5/2022) cho ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T.
Trường hợp ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm sẽ được xử lý để thu hồi nợ theo Hợp đồng thế chấp đã ký kết.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 61.207.000 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S1 số tiền 28.492.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2023/0012975 ngày 17/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T phải chịu 1.000.000 đồng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
Ngân hàng TMCP S1 được nhận lại 1.000.000 đồng tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ sau khi thu được của ông Nguyễn Trung L và bà Lê Thị T.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điểu 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hải An |
Bản án số 336/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng dân sự
- Số bản án: 336/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
