|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 336/2024/HSST Ngày: 18/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Bà Nguyễn Thị Chi
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Duy – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 302/2024/HSST ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 369/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
Lại Thế T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1997 tại Kiên Giang; Nơi đăng ký HKTT: Tổ A, ấp B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; Tạm trú: 756 L, ấp E, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lại Thế L và bà Danh Thị Ú; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/8/2012 bị Toà án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 09 tháng tù treo về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; Ngày 14/11/2021 bị Công an huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Lê Đình N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: C; Sinh năm:1979, tại Bình Thuận; Hộ khẩu thường trú: 5 đường M, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Lê Đình T1 và bà Lê Thị Hồng L1; Vợ Nguyễn Thị Minh T2; Có 01 con sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 20/7/2015, bị Công an Q1 bắt tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 30 tháng tù giam và đã chấp hành xong án phạt tù, đã nộp án phí; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trần Thị Ngọc Q; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: L2; Sinh năm 1999, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 266/40/9/58 đường T, phường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Nội trợ; Con ông Huỳnh Văn H và bà Trần Thị Ngọc T3; Chồng Phạm Trần Ngọc T4; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 22/8/2016, bị Công an Q2 bắt tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù giam và đã chấp hành xong án phạt tù, đã đóng án phí; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Trần Thị Hoàng T5; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2000 Tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: Không có; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Trần Hoàng N1 và bà Nguyễn Thị Thúy A; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
Bà Mai Thị Thiên Anh P, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: 9 đường L, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Bùi Đình P1, sinh năm 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: D B, phường A, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông Trần Văn N2, sinh năm 1965 (vắng mặt)
Địa chỉ: D3/42A N, khu phố D, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lại Thế T, Lê Đình N, Trần Thị Ngọc Q và Trần Thị Hoàng T5 đều là bạn nghiện của nhau. Do không có tiền tiêu xài nên T nảy sinh ý định tìm người khác để đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc nhằm cướp tài sản. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 15/11/2023, bà Mai Thị Thiên Anh P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ đen biển số 59M1-748.91 lưu thông trên đường L ra đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến đầu hẻm F, đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh bà P (hành nghề xe ôm công nghệ) nhìn thấy Lại Thế T ra hiệu kêu bà P dừng xe lại, khi bà P dừng xe lại thì T kêu chở đến đường H, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh với giá tiền 50.000 đồng (năm mươi nghìn đồng) thì bà P đồng ý. Bà P không có bật bản đồ chỉ đường mà điều khiển xe chạy theo sự chỉ dẫn của T chạy qua nhiều tuyến đường, khi chạy đến đường T, phường T, thành phố T, bà P thấy đường vắng và tối nên bật bản đồ để xem đường thì thấy đi sai đường nên quay đầu xe lại thì T nói “mày không còn cơ hội để quay đầu lại đâu”. Đồng thời, T dùng ngón tay trỏ của bàn tay phải chĩa vào hông phải của bà P làm bà P tưởng súng nên hoảng sợ dừng xe lại và nhảy xuống xe, dùng tay mở lấy điện thoại di động gắn trên xe. Lúc này, T kêu bà P đưa điện thoại cho T thì T sẽ trả lại xe nhưng bà P không đưa, cùng lúc thấy có người điều khiển xe chạy tới nên bà P truy hô “cướp, cướp” thì T lấy xe của bà P bỏ chạy. Sau đó, bà P đi đến công an phường trình báo sự việc.
Sau khi cướp được tài sản, T đem đến tiệm C1, địa chỉ số D B, đường B, phường A, Quận F do ông Bùi Đình P1 làm chủ, cầm lấy số tiền 2.000.000 đồng. Đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 15/11/2023, T về đến khách sạn E, địa chỉ số E đường D, phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để gặp Lê Đình N, Trần Thị Ngọc Q và Trần Thị Hoàng T5 do trước đó 04 người đã thuê để ở và sử dụng ma tuý. Tại đây, T đưa cho mọi người xem giấy cầm đồ và T nói mới cướp được xe đem đi cầm thì cả nhóm nghe rõ nhưng không ai nói gì rồi cả nhóm cùng chơi ma tuý, sau đó T bỏ đi đâu không rõ. Khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, thì T quay lại khách sạn ở cùng. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, T đưa cho Q giấy cầm đồ và kêu Q đi chuộc để đem đi bán hết số tiền còn lại thì Q đồng ý. Sau đó, Q gọi điện thoại cho Bé B (không rõ lai lịch) hỏi mượn số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) để chuộc xe thì Bé B đồng ý cho mượn. Bé B điều khiển xe mô tô chuộc lại xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ đen biển số 59M1-748.91 với giá 2.210.000 đồng (hai triệu hai trăm mười nghìn đồng), sau đó Q điều khiển xe mô tô trên về lại khách sạn còn Bé B đi về nhà. Khi về đến khách sạn, Q gọi điện thoại kêu T xuống nhà xe và hỏi T giải quyết xe như thế nào thì T nói Q có ai mua thì bán giá 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng). Q gọi điện thoại cho Trần Thanh P2 bằng mạng xã hội Zalo (P2 có nickname tên: Bảo Thy) nói có xe Future không có giấy tờ bán với giá 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng) thì P2 đồng ý mua kêu đem xe xuống tiệm B1, địa chỉ D đường N, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh giao xe cho ông Trần Đức N3 là cha của P2 để giữ dùm. Q nói với P2 hiện xe đang ở tiệm cầm đồ nên Q mượn tiền chuộc trước và kêu P2 chuyển thêm tiền để trả lãi suất thì P2 đồng ý chuyển khoản cho Q số tiền 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm nghìn đồng). Có được tiền, Q chuyển khoản trả cho Bé B số tiền 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng), trả tiền khách sạn chung cho 04 người với số tiền 380.000 đồng (ba trăm tám mươi nghìn đồng), số tiền còn lại Q giữ để xài chung. Đồng thời, Q nói với N điều khiển xe đi giao cho ông N3, do ông N3 không biết xe mô tô trên là do phạm tội có được nên đồng ý nhận giữ dùm P2. Việc Q và N đi bán xe lấy tiền về sử dụng chung cả nhóm thì T5 biết rõ và đồng ý sử dụng số tiền bán tài sản phạm tội có được. Sau đó, Q cùng với T5 và N đến khách sạn K, địa chỉ B đường A C, phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục sử dụng ma tuý còn T đi đâu không rõ. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, Q cùng với T5 và N về nhà trọ của bạn tên T6 ở hẻm A đường H, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục sử dụng ma tuý. Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 16/11/2023, Q cùng với T5 và N đang ở nhà trọ của T6 thì bị Công an thành phố T mời về làm rõ, đồng thời cũng truy xét được T. Quá trình điều tra, cả 04 bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Đối với Bùi Đình P1 có nhận cầm cố xe mô tô do T phạm tội có được nhưng không biết được nguồn gốc tài sản nên không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự.
Đối với ngừoi tên Bé B có cho chị Trần Thị Ngọc Q mượn số tiền 2.500.000 đồng để đi chuộc xe là tài sản do phạm tội mà có. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được nhân thân người này.
Đối với Trần Thanh P2 có bỏ ra số tiền 4.500.000 đồng mua xe do T phạm tội mà có do Q đem bán. Tuy nhiên, hiện tại P2 đi đâu không rõ, chưa làm việc được. Cho nên trách nhiệm dân sự cũng như hành vi mua tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của T, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với ông Trần Văn N2 có nhận giữ xe là vật chứng trong vụ án dùm cho Trần Thanh P2 nhưng chỉ làm theo lời nói của P2, không biết nội dung mua bán xe giữa P2 và Q nên không xem xét xử lý.
Tại Bản kết luận định giá tài sản của Hồi đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ đen biển số 51M1-748.91 có giá trị 13.700.000 đồng.
Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ đen biển số 59M1-748.91. Sau khi phục vụ việc định giá, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại.
Trách nhiệm dân sự: Bà Mai Thị Thiên Anh P là bị hại trong vụ án đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
Cáo trạng số 304/CT-VKSTPTĐ ngày 11/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Lại Thế T về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017; truy tố các bị cáo Lê Đình N, Trần Thị Ngọc Q và Trần Thị Hoàng T5 về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Lại Thế T, Lê Đình N, Trần Thị Ngọc Q và Trần Thị Hoàng T5 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố đối với các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lại Thế Tân, Lê Đình N, Trần Thị Ngọc Q và Trần Thị Hoàng T5 như Cáo trạng và Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lại Thế T từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Lê Đình N từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù; xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc Q từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trần Thị Hoàng T5 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù;
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên không xem xét.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy được hành vi của mình là sai trái, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị cáo Lại Thế T, Lê Đình N, Trần Thị Ngọc Q và Trần Thị Hoàng T5 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo là khách quan, phù hợp với Biên bản ghi lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra; Bản tự khai của các bị cáo; Lời khai của bị hại; Người làm chứng; và các tang vật, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở kết luận: Vì động cơ vụ lợi bất chính nên vào ngày 15/11/2023 tại đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Lại Thế T đã có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc để cướp xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, BKS 59M1-748.91 của bà Mai Thị Thiên Anh P có giá trị 13.700.000 đồng. Sau khi cướp được tài sản, T nói cho N, Q và T5 biết là xe BKS 59M1-748.91 là do T phạm tội mà có nhưng vẫn đồng ý cùng với T đem bán cho người khác để lấy tiền xài chung. Hành vi của Lại Thế T đã phạm vào tội “Cướp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của Lê Đình N, Trần Thị Ngọc Q và Trần Thị Hoàng T5 đã phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt quy định khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi “Cướp tài sản” và “Tiêu thu tài sản do người khác phạm tội mà có” là nguy hiểm, các bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức thức rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nên các bị cáo bất chấp, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo T từng bị Tòa án nhân dân huyện U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang xử phạt từ về tội “Cướp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học nay tiếp tục phạm tội thể hiện tính coi thười pháp luật. Đối với bị cáo N, Q và T5 biết rõ xe BKS 59M1-748.91 là do T phạm tội mà có nhưng vì động cơ vụ lợi nên các bị cáo bất chấp vẫn đồng ý mang xe đi bán để lấy tiền xài chung. Trong quá trình mua bán xe thì Q giữ vai trò tích cực nhất, ngoài ra N và Q cũng có nhân thân xấu, N từng bị Tòa án xử phạt về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, Q bị Tòa án xử phạt về tội “Tàng trữ trái pháp chất ma túy”, bản thân các bị cáo T, N, Q và T5 đều nghiện ma túy. Do đó cần phải có một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên cũng xét, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo tỏ thái độ thần khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, ngoài ra bị cáo T5 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sụ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đối với Bùi Đình P1 có nhận cầm cố xe mô tô do T phạm tội có được nhưng không biết được nguồn gốc tài sản nên không xử lý trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Đối với người tên Bé B có cho Trần Thị Ngọc Q mượn số tiền 2.500.000 đồng để đi chuộc xe mô tô là tài sản do phạm tội mà có. Tuy nhiên quá trình điều tra không xác định được nhân thân của người này, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Đối với Trần Thanh P2 có bỏ ra số tiền 4.500.000 đồng mua xe do T phạm tội mà có do Q đem bán. Tuy nhiên hiện tại P2 đi đâu không rõ chưa làm việc được. Cho nên về tránh nhiệm dân sự cũng như hành vi mua tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của T, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với ông Trần Văn N2 có nhận giữ xe là tang vật trong vụ án dùm Trần Thanh P2 nhưng chỉ làm theo lời nói của P2, không biết nội dung mua bán xe giữa P2 và Q nên không xem xét xử lý là có căn cứ.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về xử lý vật chứng vụ án:
01 xe mô tô hiệu Honda Future màu đỏ đen biển số 59M1-748.91 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là có căn cứ.
Trách nhiệm dân sự: Bà Mai Thị Thiên Anh P là bị hại trong vụ án đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Lại Thế T phạm tội “Cướp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lại Thế T 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
Căn cứ vào Điều 323 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Đình N, Trần Thị Ngọc Q và Trần Thị Hoàng T5 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Lê Đình N 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc Q 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Hoàng T5 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Lại Thế T, Lê Đình N, Trần Thị Ngọc Q và Trần Thị Hoàng T5 mỗi bị cáo chịu 200.000 (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu Hương |
Bản án số 336/2024/HSST ngày 18/07/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự sơ thẩm (cướp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 336/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cướp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lại Thế T phạm tội “Cướp tài sản”
