Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 336/2024/HC-PT

Ngày 23-4-2024

V/v: “Khiếu kiện quyết định hành

chính trong lĩnh vực đất đai”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Phan Đức Phương.

Các Thẩm phán:

Ông Mai Xuân Thành. Ông Hà Huy Cầu.

Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành

phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 841/2023/TLPT-HC

ngày 10/11/2023 về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất

đai"

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 15/2023/HC-ST ngày 07 tháng 9 năm

2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 01

năm 2024, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm 1951 (có mặt).

Người đại diện hợp pháp: Chị Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1987 (theo

Văn bản ủy quyền ngày 22/8/2022 – có mặt).

Bà H và chị T cùng địa chỉ: Số C, ấp T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện:

  1. Luật sư Huỳnh Trung H1 (vắng mặt).
  2. Luật sư Phan Văn T1 (có mặt).

Cùng Văn phòng Luật sư N, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.

Người bị kiện:

  1. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Thành N; chức vụ: Chủ tịch (có đơn

xin xét xử vắng mặt).

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần

Thanh G; chức vụ: Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T (có

mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Trung tâm Phát triển quỹ đất, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Xuân B; chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện hợp pháp: Ông Huỳnh Văn T2; chức vụ: Phó Giám đốc

Trung tâm P3 (theo Văn bản ủy quyền ngày 29/6/2022-vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Tầng B, tòa nhà A tầng, đường L, Phường A, thành phố C,

tỉnh Đồng Tháp.

  1. Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Tri K; chức vụ: Chủ tịch.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Văn D; chức vụ: Phó Chủ tịch (theo

Văn bản ủy quyền ngày 28/8/2023- có mặt).

Địa chỉ: Xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người kháng cáo: Người khởi kiện, bà Nguyễn Thị Cẩm H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người khởi kiện, bà Nguyễn Thị Cẩm H và người đại diện hợp pháp trình

bày:

Quyết định số 2106/QĐ-UBND ngày 14/12/2020 của UBND huyện T về

việc hỗ trợ, tại Điều 1 có nội dung: "... Nay hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị Cẩm H để

thực hiện dự án nâng cấp Quốc lộ C đoạn C - Hồ N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng

Tháp tổng số tiền 10.649.450 đồng, trong đó: Giá trị hỗ trợ về đất: 0 đồng; Giá trị

hỗ trợ về tài sản trên đất: 10.649.450đồng; Giá trị hỗ trợ khác: 0 đồng.....". Bà H

cho rằng Quyết định 2106/QĐ-UBND không khách quan, không đúng quy định

của pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà, bởi các lý do

sau đây:

Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất: Nguyên trước năm 1975 cha, mẹ bà

có để lại cho bà hơn 04 công đất (khoảng 4800m², trừ lộ giới đường cũ 5m còn

4300m²), gồm phần đất mồ mả và đất lúa. Bà H canh tác 2 công nhưng thực tế sử

dụng là 2600m² (đã được ghi nhận tại Biên bản về việc giải quyết tranh chấp tông

chi ngày 07/11/1994 của Hội đồng hòa giải xã A). Đến năm 1986, UBND xã A đề

xuất mua một phần khoảng 2000m² để làm nền UBND xã. Mặc dù, các bên chưa

tiến hành thỏa thuận dứt điểm nhưng UBND xã A đã cho ủi hết phần đất này.

Năm 1992, UBND xã A tiến hành thi công để mở rộng chợ A và tiến hành xây

dựng trên phần đất của bà nhưng vẫn không bồi thường. Bà đã yêu cầu giải quyết

nhưng cán bộ UBND xã A nói rằng: “Đất bà đó còn đó từ từ giải quyết”. Năm

1993, gia đình bà tiếp tục yêu cầu giải quyết vì đất đã phân lô bán nền cho người

khác nhưng không thanh toán tiền mua đất nên gia đình bà cương quyết giữ đất,

đổ nền đến năm 1994 cất nhà ở.

Năm 1997, UBND xã A mới tiến hành lập biên bản thỏa thuận về việc mua

một phần diện tích đất của bà trong khu vực chợ A, cụ thể: Diện tích là 2000m² x

6.000đồng = 12.000.000 đồng. Còn lại khoảng 600m² (có một phần diện tích bị

thu hồi bởi dự án nâng cấp Quốc lộ C) được bà tiếp tục quản lý và sử dụng ở ổn

định, liên tục cho đến nay mà không tranh chấp với bất cứ cá nhân nào.

Về quy trình, thủ tục và diễn biến thu hồi đối với phần diện tích của bà bị

ảnh hưởng trong dự án: Theo Công văn số 211/UBND-ĐTXD ngày 21/5/2019 của

UBND tỉnh Đ về phạm vi không bồi thường dự án Quốc lộ C đoạn C - Hồ N có

nội dung: “………Xét đề nghị của Sở T tại Công văn số: 1261/STNMT- CCQLĐĐ ngày

07/5/2019 về phạm vi không bồi thường đối với dự án nâng cấp Quốc lộ C đoạn

qua C - Hồ N; tại cuộc họp ngày 14/5/2019, Chủ tịch và các Phó Chủ tịch thống

nhất ý kiến như sau: Thống nhất phạm vi không bồi thường đối với dự án nâng

cấp Quốc lộ 30 đoạn qua C - Hồng Ngự theo đề nghị của Sở T tại Công văn nêu

trên, cụ thể: Trên địa bàn huyện C, huyện T, huyện T phạm vi không bồi thường là

12m (tính từ tim đường hiện hữu ra mỗi bên 6m) … ”

Do đó, trước khi tiến hành thu hồi đất, UBND xã A có mời bà đến làm việc

liên quan đến bồi thường đất và phần kiến trúc thuộc công trình Quốc lộ C. Tại

buổi làm việc ngày 11/11/2020, bà đã nêu quan điểm là: “Về đất thì không yêu cầu

bồi thường (phần diện tích đất sân chợ và phần đất ngay nhà, việc tranh chấp đất

sân chợ bà sẽ yêu cầu giải quyết sau), bà chỉ yêu cầu về phần kiến trúc nằm trong

dự án nâng cấp Quốc lộ C, dài theo nền nhà là 18,5m tính từ tim bỏ vô 6m phạm

vi không bồi thường, từ đó trở đi tới ranh giải phóng mặt bằng tới đâu thì lên

phương án bồi thường tới đó...”. Như vậy, bà đồng ý với nội dung Công văn số

211/UBND-ĐTXD ngày 21/5/2019 của UBND tỉnh Đ. Nếu thu hồi đất của bà

vượt quá phạm vi 6m từ tim đường Quốc lộ 30 cũ Nhà nước thu hồi đến đâu thì

phải lập phương án bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất.

Sau đó, ngày 13/11/2020, Trung tâm Phát triển quỹ đất phối hợp với các cơ

quan có liên quan tiến hành đo vẽ và lập biên bản kiểm kê hiện trạng để phục vụ

cho công tác đền bù, bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất của bà. Tuy

nhiên, khi tiến hành đo vẽ và cắm mốc giới phần diện tích đất bị thu hồi thì cán bộ

đo đạc lấn vào phần đất của bà thay vì từ tim đường vào là 06m lại đo vào 09m

(chênh lệch 03 mét so với thỏa thuận trước đó) nên bà đã đề nghị lập biên bản và

lý giải vì sao lại đo lấn vào đất thêm 03m nhưng không được giải quyết. Ngày

29/10/2021, Trung tâm Phát triển quỹ đất phối hợp với các cơ quan có liên quan

tiếp tục đo đạc lại và lấn thêm 1,5m nhưng không có biên bản làm việc, không có

bản vẽ để xác định ranh giới.

Như vậy, việc đo đạc, xác định lại ranh giới đến ngày 19/10/2021 vẫn chưa

xác định chính xác nhưng trước đó vào ngày 14/12/2020, UBND huyện T đã ban

hành Quyết định số 2106/QĐ-UBND là không đúng pháp luật.

Về nội dung Quyết định số 2106/QĐ-UBND:

Một là: Để UBND huyện T ban hành Quyết định số 2106/QĐ-UBND thì

phải căn cứ Bảng kê chi tiết bồi thường, hỗ trợ của Trung tâm Phát triển quỹ đất.

Tuy nhiên, vào ngày 15/12/2020, Trung tâm Phát triển quỹ đất mới lập Bảng kê

chi tiết bồi thường - hỗ trợ nhưng ngày 14/12/2020, UBND huyện T đã ban hành

Quyết định số 2106/QĐ-UBND là không đúng trình tự.

Hai là: Quyết định số 2106/QĐ-UBND không đề cập diện tích đất bị thu

hồi là bao nhiêu? Ranh lộ giới là bao nhiêu tính từ Quốc lộ C cũ nên không đủ cơ

sở để ban hành thông báo thu hồi đất, quyết định đền bù, hỗ trợ đối với người có

đất bị thu hồi là vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.

Ba là: Quyết định số 2106/QĐ-UBND, thể hiện: “Giá trị hỗ trợ về tài sản

trên đất là 10.649.450 đồng”. Tuy nhiên, đối với giá trị đất bị thu hồi thì lại

không được UBND huyện T xem xét. Khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai năm 2013 về

hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất quy định:

“2. Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:

a) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;

b) Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp

thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp;

thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di

chuyển chỗ ở;

c) Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá

nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;

d) Hỗ trợ khác... ”

Như vậy, đối với các tài sản gắn liền với đất thì không nằm trong hạng mục

hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất. Rõ ràng, tại Quyết định số 2106/QĐ-UBND;

Bảng kê chi tiết bồi thường - hỗ trợ ngày 15/12/2020 và biên bản về việc đo đạc,

kiểm đếm nhà, công trình bị thiệt hại đều thể hiện các công trình trên đất của bà bị

ảnh hưởng. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 89 và Điều 90 Luật Đất đai năm 2013

thì UBND huyện T phải bồi thường đối với các tài sản gắn liền trên đất của bà. Vì

vậy, việc không đền bù về đất mà chỉ hỗ trợ đối với tài sản gắn liền với đất bị thu

hồi là không đúng pháp luật,

B1 là: Việc UBND huyện T cho rằng phần diện tích bà quản lý và sử dụng

từ những năm 1975 đến nay là đất công do nhà nước quản lý nhưng không có bất

cứ cơ sở, tài liệu chứng cứ nào chứng minh. Trong khi đó, phần đất này được bà

quản lý và sử dụng năm 1975, thời gian sau bà đã tiến hành xây dựng các công

trình trên đất (được ghi nhận tại Bảng kê chi tiết bồi thường - hỗ trợ ngày

15/12/2020) trước sân nhà để kinh doanh nước giải khát. Tại thời điểm thu hồi đất

để thực hiện dự án thì các công trình này vẫn đang còn tồn tại. Điều này được

chứng minh bởi các tài liệu, chứng cứ như sau:

Từ đầu những năm 1990, bà đã kinh doanh ngành nghề giải khát và đóng

thuế môn bài hằng năm (được chứng minh bằng tờ thuế môn bài ngày

19/01/1992). Năm 1994, chồng bà (ông Nguyễn Văn Q) lập thủ tục đăng ký kinh

doanh và được UBND huyện T cấp giấy phép kinh doanh số 018 ngày 30/12/1994

với ngành nghề kinh doanh là ngành giải khát tại phần sân nhà thuộc địa chỉ: Ấp

T, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi ông Q chết thì bà tiếp tục kinh doanh

trên phần đất này và đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh số 51F8 003453 (đăng ký lần đầu ngày 03/01/2002) và được cấp

lại ngày 12/8/2019.

Cơ quan có thẩm quyền cho rằng phần diện tích của bà do Nhà nước quản

lý thì tại sao lại cấp giấy phép kinh doanh cho bà trên phần đất này. Đồng thời,

theo quy định tại Điều 92 Luật Đất đai năm 2013, đối với trường hợp Nhà nước

thu hồi đất không được bồi thường tài sản gắn liền với đất. Nếu UBND huyện T

cho rằng đây là đất do Nhà nước quản lý thì tại sao lại chỉ hỗ trợ đối với tài sản

gắn liền với đất của bà bị ảnh hưởng bởi dự án nâng cấp Quốc lộ C.

Hơn nữa, nếu UBND huyện T cho rằng phần diện tích đất, tài sản gắn liền

với đất bị thu hồi của bà đang sử dụng bán nước giải khát thuộc quyền quản lý

của nhà nước thì tại sao không có bất cứ một động thái xử lý nào đối với hành vi

lấn, chiếm, hủy hoại đất đai được quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Đất đai năm

2013 và Điều 3 Nghị định 91/2019/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong

lĩnh vực đất đai.

Năm là: Trước khi bị thu hồi đất và tài sản gắn liền với đất thì bà có đăng

ký kinh doanh ngành nghề là giải khát, với doanh thu tương đối ổn định. Tuy

nhiên, khi bị cơ quan nhà nước thu hồi đất để mở rộng Quốc lộ C thì việc kinh

doanh bị ảnh hưởng, khách hàng và số lượng hàng hóa bán ra bị giảm sút đáng kể.

Khoản 2, Điều 88 Luật Đất đai năm 2013 về Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về

tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất, quy định: “………2. Khi

Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở

nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh

doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại...”. Do đó, việc UBND huyện

T tiến hành thu hồi đất, tài sản gắn liền với đất làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh

doanh mà không bồi thường thiệt hại là không đúng pháp luật.

Vì vậy, bà H yêu cầu hủy Quyết định số 2106/QĐ-UBND do ban hành trái

pháp luật và hủy Thông báo số 899/TB-UBND ngày 05/4/2022 của Chủ tịch

UBND huyện T về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bà H rút lại một phần yêu cầu

khởi kiện đối với việc hủy Thông báo số 899/TB-UBND ngày 05/4/2022 của Chủ

tịch UBND huyện T.

Người bị kiện trình bày:

Ủy ban nhân dân huyện T trình bày:

Về hiện trạng sử dụng đất và tình hình giải quyết yêu cầu, khiếu nại của bà

Nguyễn Thị Cẩm H.

Hộ bà H được UBND huyện T cấp 03 chứng nhận quyền sử dụng đất,

quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (giấy chứng nhận), gồm: Giấy

chứng nhận số CH02717 cấp ngày 16/11/2016, thửa đất số 191, tờ bản đồ số 110,

diện tích 67,5m², mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn, tứ cận: Bắc giáp thửa

192 của hộ bà H; Nam giáp thửa 172 của ông Nguyễn Văn L; Đông giáp thửa 154

đất giao thông; Tây giáp thửa 164 của hộ bà H; giấy chứng nhận số CH 10282 cấp

ngày 23/7/2019, thửa đất số 192, tờ bản đồ số 110, diện tích 67,4m², mục đích sử

dụng là đất ở tại nông thôn, tứ cận: Bắc giáp thửa 154 đất giao thông; Nam giáp

thửa 191 của hộ bà H; Đông giáp thửa 154 đất giao thông; Tây giáp thửa 164 của

hộ bà H; giấy chứng nhận số CH 10281 cấp ngày 23/7/2019, thửa đất số 164, tờ

bản đồ số 110, diện tích 31,2m², mục đích sử dụng là đất ở tại nông thôn, tứ cận:

Bắc giáp thửa 154 đất giao thông; Nam giáp thửa 336 của ông Nguyễn Văn L;

Đông giáp thửa 191, 192 của hộ bà H; Tây giáp thửa 156 của ông Đặng Phước Đ.

Phần diện tích đất bà H yêu cầu UBND huyện xem xét bồi thường về đất là

đất giao thông thuộc một phần thửa 154, tờ bản đồ số 110 nằm trên phần đất công

do Nhà nước quản lý, thuộc Dự án nâng cấp Quốc lộ 30 đoạn C - Hồ N, đoạn qua

xã A, huyện T, cách nền nhà của hộ bà H được cấp giấy chứng nhận một đoạn là

3,9m, một đoạn là 5,5m. Ngày 14/12/2020, UBND huyện T ban hành Quyết định

số 2106/QĐ-UBND về việc hỗ trợ cho bà H để thực hiện Dự án nâng cấp Quốc lộ

30 đoạn C - Hồ N, với số tiền là 10.649.450 đồng về giá trị hỗ trợ tài sản trên đất,

bà H đã nhận tiền hỗ trợ. Ngày 08/11/2021, bà H có đơn kiến nghị đến Trung tâm

Phát triển Quỹ đất tỉnh P3 đề nghị xem xét, xác minh lại đối với phần diện tích đất

bị ảnh hưởng của bà tại ấp T, xã A, huyện T thuộc Dự án nâng cấp Quốc lộ 30

đoạn C - Hồ N. Ngày 17/11/2021, Trung tâm Phát triển Quỹ đất tỉnh P3 có văn

bản số 1209/TTPTQĐ-BTGPMB, trả lời đơn kiến nghị của bà H, với nội dung:

Tại vị trí phần đất bà đề nghị xem xét là đất giao thông và được UBND huyện T

ban hành Quyết định thu hồi đất tại Quyết định số 1489/QĐ-UBND ngày

02/07/2020 để thực hiện dự án.

Về yêu cầu bồi thường đất do thực hiện Dự án nâng cấp Quốc lộ C đoạn C -

Hồ N (qua xã A).

Ngày 05/4/2022, Chủ tịch UBND huyện T ban hành Thông báo số 899/TB-

UBND về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của bà H, với lý do: Quyết định

hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền,

lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.

Việc bà H yêu cầu bồi thường về đất là không có cơ sở xem xét do là đất

giao thông, thuộc một phần thửa 154, tờ bản đồ số 110; đồng thời, đối với phần

đất bà H đề nghị xem xét là phần đất thuộc khu vực chợ xã A.

Căn cứ khoản 1 Điều 75 Luật Đất đai 2013, điều kiện được bồi thường về

đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế -

xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng, quy định: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử

dụng đất không phải là đất thuê trả tiền đất thuê hàng năm, có Giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền

với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) hoặc có đủ điều kiện để được cấp

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền

với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp, trừ trường hợp quy định

tại khoản 2 Điều 77 của Luật này; người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc

đối tượng được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam mà có

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền

với đất theo quy định của Luật này mà chưa được cấp” thì hộ bà H không đủ điều

kiện được bồi thường về đất.

Theo Công văn số 211/UBND-ĐTXD ngày 21/5/2019 của UBND tỉnh Đ về

phạm vi không bồi thường Dự án nâng cấp Quốc lộ 30 đoạn C - Hồ N, có nội

dung: Trên địa bàn huyện C, huyện T, huyện T, phạm vi không bồi thường là 12m

(tính từ tim đường hiện hữu ra mỗi bên 6m). Nhưng bà H không có đất tiếp giáp

Quốc lộ C. Vì vậy UBND huyện T ban hành Quyết định số 2106/QĐ-UBND hỗ

trợ cho bà H số tiền 10.649.450 đồng về giá trị hỗ trợ tài sản trên đất là đúng quy

định của pháp luật và bà H đã nhận tiền hỗ trợ xong.

Từ những nội dung trên, UBND huyện T đề nghị giữ nguyên Quyết định số

2106/QĐ-UBND ngày 14/12/2020 của UBND huyện T. Việc bà H khởi kiện

Quyết định số 2106/QĐ-UBND là không phù hợp với quy định, không liên quan

trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T trình bày:

Ngày 05/9/2023, Chủ tịch UBND huyện T ban hành Văn bản số

1117/UBND-HC về việc thu hồi, hủy bỏ Thông báo về việc không thụ lý giải

quyết khiếu nại đối với Thông báo số 899/TB-UBND ngày 05/4/2022 của Chủ

tịch UBND huyện T về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại.

Trung tâm Phát triển quỹ đất, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ trình

bày:

Ngày 29/01/2019, Bộ G1 ban hành Quyết định số 201/QĐ-BGTVT về việc

phê duyệt điều chỉnh dự án nâng cấp Quốc lộ C, đoạn C - Hồ N, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 02/8/2019, Sở T phê duyệt mảnh trích đo địa chính để phục vụ công tác bồi

thường giải phóng mặt bằng của dự án Nâng cấp Quốc lộ 30 đoạn C - Hồ N, đoạn

qua A, huyện T. Tại vị trí phần đất bà H đề nghị xem xét là đất giao thông. Ngày

02/7/2020, UBND huyện T ban hành Quyết định số 1489/QĐ-UBND về việc thu

hồi đất công của Nhà nước quản lý để thực hiện dự án Nâng cấp Quốc lộ C đoạn

C - Hồ N, đoạn qua A, huyện T.

Trong quá trình bàn giao mặt bằng để thực dự án, bà Nguyễn Thị Cẩm H

không đồng ý bàn giao mặt bằng và đề nghị bồi thường đất và tài sản trên đất.

Ngày 06/11/2020, UBND huyện T có thông báo số 222/TB-VP về ý kiến kết luận,

chỉ đạo của Chủ tịch UBND huyện T tại cuộc họp giao ban ngày 02/11/2020,

trong đó, giao UBND xã A phối hợp Trung tâm Phát triển Quỹ đất mời bà H đến

trao đổi về nội dung đề nghị của bà H và vận động bàn giao mặt bằng.

Thực hiện theo nội dung chỉ đạo trên, UBND xã A phối hợp với Trung tâm

Phát triển Quỹ đất trao đổi làm việc với bà H liên quan đến việc bồi thường của

dự án. Tại buổi làm việc, bà H thống nhất không yêu cầu bồi thường đất. Bà chỉ

yêu cầu bồi thường về phần kiến trúc nằm trong dự án và đề nghị khi chi tiền

xong mới được thi công (biên bản ngày 11/11/2020). Ngày 02/12/2020, UBND

huyện T có Công văn số 1767/UBND-HC về việc xác nhận đối tượng được hỗ trợ

thiệt hại tài sản, vật kiến trúc. Trong đó, UBND huyện T xác nhận cho hộ bà H có

vật kiến trúc và cây trồng nằm trên phần đất công do Nhà nước quản lý.

Từ những cơ sở trên, Trung tâm Phát triển Quỹ đất lập phương án hỗ trợ và

được UBND huyện T phê duyệt phương án tại Quyết định số 331/QĐ-UBND

ngày 14/12/2020. Ngày 14/12/2020, UBND huyện T ban hành Quyết định hỗ trợ

cho bà H để thực hiện dự án, giá trị hỗ trợ là 10.649.450 đồng. Ngày 14/12/2022,

UBND huyện T ban hành Quyết định số 1730/QĐ-UBND về việc điều chỉnh

Quyết định số 1489/QĐ-UBND ngày 02/7/2022 của UBND huyện T về việc thu

hồi đất công của Nhà nước quản lý để thực hiện dự án Nâng cấp Quốc lộ C đoạn

C - Hồ N, đoạn qua A, huyện T. Ngày 17/12/2020, bà H nhận tiền hỗ trợ và đồng

ý bàn giao mặt bằng để thực hiện dự án. Ngày 05/4/2022, UBND huyện T có

Thông báo số 899/TB-UBND về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại của bà H.

Như vậy, tại vị trí phần đất bà H đề nghị xem xét là đất giao thông và được

UBND huyện T ban hành Quyết định thu hồi đất tại Quyết định số 1730/QĐ-

UBND ngày 14/12/2020 để thực hiện dự án.

Ủy ban nhân dân xã A, huyện T trình bày:

Phần đất mà bà H khởi kiện yêu cầu bồi thường là đất giao thông do UBND

xã A quản lý trên sổ sách đất công, có sổ quản lý đất công đã cung cấp cho Tòa

án, đất bà H yêu cầu bồi thường thuộc thửa 154, tờ bản đồ số 110, đất giao thông

(DGT) diện tích 4.479,9m².

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 15/2023/HC-ST ngày 07 tháng 09 năm

2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, quyết định:

Căn cứ: Điều 30, Điều 32, điểm e khoản 1 Điều 143, khoản 2 Điều 173,

Điều 116, Điều 193, 358 của Luật Tố tụng hành chính 2015; Điều 83 Luật Đất đai

năm 2013; Khoản 1 Điều 18 Luật Khiếu nại năm 2011; Nghị định số

43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số

điều của Luật đất đai; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính

phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Quyết

định số 27/2014/QĐ-UBND ngày 27/11/2014 của UBND tỉnh Đ ban hành quy

định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn

tỉnh Đồng Tháp; Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH

ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với yêu cầu hủy một

phần Quyết định số 2106/QĐ-UBND ngày 14/12/2020 của UBND huyện T về

việc hỗ trợ.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối

với Thông báo số 899/TB-UBND ngày 05/4/2022 của Chủ tịch UBND huyện T

về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và quyền

kháng cáo của các đương sự.

Ngày 19/9/2023, người khởi kiện, bà Nguyễn Thị Cẩm H kháng cáo đề

nghị xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa, người khởi kiện giữ nguyên kháng cáo và trình bày:

Bà H có quyền sử dụng 4 thửa đất là thửa 164, 191, 192 và 3697 nhưng chỉ

được UBND huyện T cấp giấy CNQSDĐ 3 thửa là 164, 191, 192, còn lại thửa

3697 tuy có đăng ký và được UBND xã A lập danh sách công khai hồ sơ đăng ký

cấp giấy CNQSDĐ ngày 11/11/2013 nhưng chưa được cấp giấy CNQSDĐ.

Trường hợp, bà H đã được cấp giấy CNQSDĐ thì đề nghị được bồi thường theo

quy định do thửa đất này bị ảnh hưởng bởi dự án Quốc lộ C.

Sau khi Hội đồng xét xử công bố các thông tin liên quan đến thửa 3697 thì

bà H xác nhận đã được cấp giấy CNQSDĐ thửa 3697, sau đó chuyển nhượng cho

ông Nguyễn Văn P là đúng. Tuy nhiên, thửa 3697 là không đúng vị trí do UBND

huyện đã cấp nhầm. Thực tế, thửa 3697 giáp Quốc lộ C, không phải thửa 282, tờ

bản đồ số 110 ghi người sử dụng là ông P.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện trình bày:

Tại phiên tòa ngày 18/3/2024, đại diện UBND xã A đã thừa nhận nguồn

gốc đất của bà H do cha mẹ để lại được sử dụng trước ngày 15/10/1993; đồng

thời, UBND xã A và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện

xác nhận thửa 154, tờ bản đồ số 110 được xác lập vào năm 2016. Như vậy, việc

xác lập đất giao thông chỉ mới bắt đầu từ năm 2016, còn trước đó phần đất bị thu

hồi vẫn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà H.

Căn cứ Công văn số 1209 ngày 17/11/2021 của Trung tâm Phát triển Quỹ

đất thì diện tích đất bà H yêu cầu bồi thường là đất giao thông thuộc thửa 400,

mảnh trích đo số 18 đã được Sở tài nguyên và Môi trường phê duyệt ngày

02/8/2019 và thời điểm công bố Thông báo thu hồi đất của bà H là vào ngày

30/5/2019.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng diện tích đất bà H đang kinh doanh dịch vụ

giải khát thuộc đất giao thông do UBND xã A quản lý là không đúng quy định

của pháp luật. Bà H sử dụng phần đất này để kinh doanh, không bị cơ quan có

thẩm quyền xử phạt về hành vi lấn chiếm đất công. Ngoài ra, căn cứ vào Bản kê

khai Công trình nhà đất của cá nhân, tổ chức nằm trong hành lang Quốc lộ 30

được lập vào ngày 07/7/2008, có cơ sở khẳng định nhà đất của bà H sử dụng trước

khi có thông báo thu hồi để nâng cấp Quốc lộ 30 vẫn thuộc quyền sử dụng hợp

pháp của bà H. Bà H đã thực hiện thủ tục kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích sử dụng thực tế, trong đó có diện tích đất bị

thu hồi nhưng không được bồi thường.

Đối với diện tích 87,2m² (theo Bản đồ trích đo ngày 14/12/2022) mà bà H

yêu cầu bồi thường về đất là thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà H, được đăng

ký kê khai rõ ràng, nộp thuế đầy đủ và sử dụng ổn định, lâu dài trong nhiều năm

nhưng lại không được đền bù theo đúng quy định của pháp luật. Trong khi đó, các

hộ liền kề giáp ranh và lân cận đều đã được thu hồi và bồi thường giá trị quyền sử

dụng đất và hỗ trợ tài sản trên đất.

Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 2 Quyết định số 27/2014/QĐ-UBND

ngày 27/11/2014 của UBND tỉnh Đ, được sửa đổi bởi khoản 2, Điều 1 Quyết định

số 37/2016/QĐ-UBND ngày 25/7/2016 ngày 27/11/2014 của UBND tỉnh Đ thì bà

H không thuộc đối tượng không được chi trả khi bị thu hồi đất. Do đó, Quyết định

số 2106/QĐ-UBND ngày 14/12/2020 của UBND huyện T chỉ ghi nhận về giá trị

hỗ trợ về tài sản trên đất mà không bồi thường đất là không đúng quy định.

Ngoài phạm vi 06m, bà H đã chấp thuận thì đối với phần diện tích đất

87,2m² (theo Bản đồ trích đo ngày 14/12/2022) nằm ngoài phạm vi đã thống nhất

thì UBND huyện T phải có trách nhiệm đền bù, hỗ trợ đối với bà H theo đúng quy

định của pháp luật.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện,

sửa toàn bộ Bản án sơ thẩm nêu trên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày:

Ngày 24/10/2013, bà H có đơn đề nghị cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa

3697, diện tích 102m². Ngày 12/12/2013 và ngày 23/12/2013, bà H đã được

UBND huyện T cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa 3697. Ngày 02/01/2014, bà H

chuyển nhượng toàn bộ thửa 3697 cho ông Nguyễn Văn P và bà Nguyễn Thị H.

Ngày 08/2/2014, ông P, bà H đã được UBND huyện T cấp giấy CNQSDĐ đối với

thửa đất nêu trên. Ông P có làm thủ tục xin cấp đổi giấy CN QSDĐ và ngày

16/11/2016, ông P, bà H được UBND huyện T cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa

282, tờ bản đồ số 110, diện tích 106,6m².

Do đó, việc UBND huyện T ban hành Quyết định số 2106/QĐ-UBND là

đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không

chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố

tụng: Xét thấy Thẩm phán chủ toạ phiên toà, các thành viên Hội đồng xét xử và

những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của

Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm

H làm trong hạn luật định, đúng hình thức. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận về

mặt hình thức.

Về nội dung: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ và kete quả tranh tụng công

khai tại phiên tòa thì bản án sơ thẩm là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Người

khởi kiện kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh nên đề nghị Hội đồng

xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận

kháng cáo của bà H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng

tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí

Minh, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy

định tại Điều 30; Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Bà

Nguyễn Thị Cẩm H kháng cáo đúng quy định nên vụ án được xét xử theo thủ tục

phúc thẩm.

[2] Trong đơn khởi kiện, bà H có yêu cầu hủy Thông báo số 899/TB-

UBND ngày 05/4/2022 của Chủ tịch UBND huyện T về việc không thụ lý giải

quyết khiếu nại. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện hợp pháp của bà H đã rút yêu cầu

này nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Điều 173 Luật Tố tụng hành chính đình chỉ

giải quyết vụ án đối với phần bà H đã rút yêu cầu khởi kiện là đúng quy định.

Về nội dung:

[3] Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định: Tòa án cấp sơ

thẩm xác định các quyết định bị khiếu kiện ban hành đúng thẩm quyền, trình tự

thủ tục là đúng quy định tại Luật Đất đai năm 2013.

[4] Về nội dung quyết định hành chính bị khiếu kiện:

[4.1] Hồ sơ vụ án thể hiện: Bà Nguyễn Thị Cẩm H được UBND huyện T

cấp 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền

với đất, gồm: Giấy chứng nhận số CH02717 ngày 16/11/2016, đối với diện tích

67,5m², thửa đất số 191, tờ bản đồ số 110, mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn,

tứ cận: Bắc giáp thửa 192, Nam giáp thửa 172, Đông giáp thửa 154 và Tây giáp

thửa 164; Giấy chứng nhận số CH 10282 ngày 23/7/2019, đối với diện tích

67,4m², thửa đất số 192, tờ bản đồ số 110, mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn,

tứ cận: Bắc giáp thửa 154; Nam giáp thửa 191; Đông giáp thửa 154 và Tây giáp

thửa 164; Giấy chứng nhận số CH 10281 cấp ngày 23/7/2019, đối với diện tích

31,2m², thửa đất số 164, tờ bản đồ số 110, mục đích sử dụng đất ở tại nông thôn,

tứ cận: Bắc giáp thửa 154; Nam giáp thửa 336; Đông giáp thửa 191, 192 và Tây

giáp thửa 156.

[4.2] Hồ sơ do UBND huyện T cung cấp thể hiện:

[4.2.1] Cụ Nguyễn Văn C là cha của bà H sử dụng diện tích 4.300m² (gồm

2.000m² đất lúa và 2.300m² đất mồ mả, hầm hố) từ năm 1975. Ngày 19/3/1997,

UBND xã A đã bồi hoàn thành quả lao động diện tích 2.000m² cho bà H, số tiền

12.000.000 đồng, theo đơn giá 6.000 đồng/m². Quá trình giải quyết vụ án, bà H

thừa nhận đã nhận số tiền 12.000.000 đồng nêu trên và xác nhận diện tích

2.000m² đã bồi hoàn xong, không tranh chấp.

[4.2.2] Phần diện tích 2.300m² thì bà H đã chuyển nhượng một phần cho

Bưu điện xã A và cho các em bà H là Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị Cẩm N1,

Nguyễn Hạnh P1 để làm nhà, còn lại diện tích 440m² thì tiếp tục khiếu nại do

phần đất này UBND xã A quản lý. Việc khiếu nại đã được giải quyết tại các

Quyết định giải quyết khiếu nại số 63/QĐ-UBND ngày 17/12/2004 của Chủ tịch

UBND huyện T và Quyết định số 529/QĐ-UBND ngày 02/12/2005 của Chủ tịch

UBND tỉnh Đ có nội dung bác đơn khiếu nại của bà H.

Ngày 22/9/2006, Chủ tịch UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 291/QĐ-

UBND, có nội dung hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 63/QĐ-UBND của

Chủ tịch UBND huyện T và Quyết định số 529/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND

tỉnh Đ; đồng thời xác định bà H được bồi thường diện tích 180m² theo giá

600.000 đồng/m2.

[4.2.3] Theo Biên bản tiếp xúc do Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện

T lập ngày 27/4/2014 thì bà H xác nhận: “Ngoài phần 180m² UBND tỉnh đã giải

quyết cho tôi nhận tiền 108 triệu đồng, còn lại 160m² là UBND xã A bán cho ông

Nguyễn Văn T3 40m², phần còn lại 120m² ông P2 lấn tôi 9m², ông P2 trả số tiền 5

triệu đồng tôi hiến cho UBND xã A nhận. Còn lại 111m² xã giao cho tôi và tôi bán

cho bà 8 H2, hiện nay đã xây dựng nhà. Đối với phần 40m² tôi khiếu nại UBND

xã A đã đổi đất khác cho tôi, hiện nay tôi cất nhà ở phía trên. Hiện nay, tôi không

khiếu nại phần đất nêu trên vì đã giải quyết xong”.

[5] Tại Sổ Mục kê đất đai của UBND xã A lập năm 1993 thể hiện: Thửa

167, tờ bản đồ số 05, diện tích 18.568m² là đất chợ do UBND xã quản lý; Sổ

Mục kê đất đai năm 2016 thể hiện thửa 154, tờ bản đồ số 110, diện tích 4.479,9m²

là đường đá.

[6] Tại Bản đồ địa chính xã A do Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi

trường tỉnh P3 đo tháng 9/2015, được Trung tâm T4 kiểm tra tháng 11/2016, được

UBND xã A xác nhận ngày 09/11/2016 và được Sở Tài nguyên và Môi trường

tỉnh Đ duyệt ngày 26/12/2016 duyệt, thể hiện: Các thửa 164, 192 nêu trên có cạnh

giáp thửa 154, diện tích là 4.479,9m² thuộc hành lang đường bộ Quốc lộ C.

[7] Ngày 29/01/2019, Bộ G1 ban hành Quyết định số 201/QĐ-BGTVT về

việc phê duyệt điều chỉnh dự án nâng cấp Quốc lộ C, đoạn C - Hồ N, tỉnh Đồng

Tháp. Ngày 02/8/2019, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ phê duyệt mảnh trích

đo địa chính để phục vụ công tác bồi thường giải phóng mặt bằng của dự án Nâng

cấp Quốc lộ 30 đoạn C - Hồ N, đoạn qua A, huyện T. Tại vị trí phần đất bà H2 đề

nghị xem xét bồi thường là đất giao thông. Ngày 02/7/2020, UBND huyện T ban

hành Quyết định số 1489/QĐ-UBND về việc thu hồi đất công của Nhà nước quản

lý để thực hiện dự án Nâng cấp Quốc lộ C đoạn C - Hồ N, đoạn qua A, huyện T là

đúng quy định.

[8] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H2 xác nhận có đăng ký và được cấp giấy

CNQSDĐ đối với diện tích 102m² thửa 3697, tờ bản đồ số 5 là phù hợp với các

tài liệu do UBND huyện T cung cấp, thể hiện: Ngày 24/10/2013, bà H2 lập đơn

đề nghị cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa 3697, diện tích 102m², được UBND xã A

xác nhận ngày 14/11/2013, được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện T

xác nhận ngày 12/12/2013 và ngày 23/12/2013, bà H2 được UBND huyện T cấp

giấy CNQSDĐ đối với thửa 3697, tờ bản đồ số 05, diện tích 102m².

Ngày 02/01/2014, bà H2 chuyển nhượng toàn bộ thửa 3697 cho ông

Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị H và ngày 08/02/2014, ông P, bà H được UBND

huyện T cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa 3697, diện tích 102m² nêu trên. Sau đó,

ông P làm thủ tục xin cấp đổi giấy CNQSDĐ và ngày 16/11/2016, ông P, bà H

được UBND huyện T cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa 282, tờ bản đồ số 110, diện

tích 106,6m².

Như vậy, thửa 3697, tờ bản đồ số 05 trước đây và nay là thửa 282, tờ bản

đồ số 110 thuộc quyền sử dụng của ông P, bà H; Đồng thời theo bản đồ địa chính

chính quy của xã A thì thửa 282 cũng không giáp Quốc lộ 30 nên bà H yêu cầu

bồi thường thửa 3697 là không có căn cứ.

[9] Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H là có

căn cứ. Bà H kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh. Vì vậy, Hội đồng

xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bà H,

giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[10] Bà H được miễn án phí sơ thẩm, phúc thẩm. Các phần khác của bản án

sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời

hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 83 Luật Đất đai

năm 2013; Khoản 1 Điều 18 Luật khiếu nại năm 2011; Nghị định số 43/2014/NĐ-

CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật

Đất đai; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về

bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Quyết định số

27/2014/QĐ-UBND ngày 27/11/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đ ban hành quy

định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn

tỉnh Đồng Tháp; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử

dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Cẩm H.
  2. Giữ nguyên Bản án hành chính số 15/2023/HC-ST ngày 07 tháng 9 năm

    2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

  3. Đình chỉ xét xử vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm

    H về yêu cầu hủy Thông báo số 899/TB-UBND ngày 05/4/2022 của Chủ tịch Ủy

    ban nhân dân huyện T về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại.

  4. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Cẩm H đối với yêu cầu hủy

    một phần Quyết định số 2106/QĐ-UBND ngày 14/12/2020 của Ủy ban nhân dân

    huyện T về việc hỗ trợ.

  5. Chi phí tố tụng: Bà H phải chịu 3.930.479 (Ba triệu, chín trăm ba mươi

    nghìn, bốn trăm bảy mươi chín) đồng và đã quyết toán xong.

  6. Về án phí: Bà H được miễn án phí sơ thẩm, phúc thẩm.

7. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có

hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

8. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ

ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Tháp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP (5), HS (2) (LTTH)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Phan Đức Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 336/2024/HC-PT ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai

  • Số bản án: 336/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger