|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 335/2024/KDTM-ST Ngày: 21/11/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bành Kim Phượng
Các hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Mai
- Ông Nguyễn Bảo Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quế Chi – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Mỹ – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2024/TLST-KDTM ngày 11 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 888/2024/QĐXXST-KDTM ngày 22 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á; Địa chỉ trụ sở: D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Hứa Văn N, sinh năm 1997; Địa chỉ: Lầu H, Tòa nhà A, D C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy uỷ quyền số 545/UQ-QLN.24 ngày 23/4/2024) (Có mặt).
2. Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn P; Địa chỉ trụ sở: 4 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thông tin chủ sở hữu: Bà Phan Thị Ngọc N1, sinh năm 1978; địa chỉ: D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T (Có đơn xin vắng mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Bà Phan Thị Ngọc N1, sinh năm 1978; địa chỉ: D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T (Có đơn xin vắng mặt).
3.2. Ông Lê Viết Đ, sinh năm 1974;
3.3 Trẻ Lê Ngọc Đàm H, sinh năm 2007; (do ông Lê Viết Đ là cha ruột làm người đại diện hợp pháp);
3.4 Trẻ Lê Ngọc Chi L, sinh năm 2009 (do ông Lê Viết Đ là cha ruột làm người đại diện hợp pháp);
Cùng địa chỉ: D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Ông Lê Viết Đ có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết vụ án đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (dưới đây gọi là Ngân hàng) và Công ty Trách nhiệm hữu hạn P (dưới đây gọi là Công ty P) có ký kết Hợp đồng cấp tín dụng số NTP.DN.1927.160823 ngày 18/8/2023 và Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung số NTP.DN.1880.160823 ngày 18/8/2023 với số tiền vay là 1.800.000.000 (Một tỷ, tám trăm triệu) đồng; mục đích cho vay là bổ sung vốn lưu động và phát hành bảo lãnh thanh toán phục vụ kinh doanh các ngành nghề theo Giấy phép kinh doanh phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh: Bán buôn thực phẩm, đồ uống, thuốc lá; thời hạn cho vay được ghi trên mỗi Khế ước nhận nợ tối đa không quá 06 tháng kể từ ngày tiếp theo của ngày giải ngân; lãi suất trong hạn được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể; lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn; lãi suất phạt chậm trả 10%/năm.
Thực hiện Hợp đồng cấp tín dụng và Thoả thuận tín dụng trên, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty P theo Khế ước nhận nợ số [...] ngày 25/8/2023 với số tiền giải ngân là 1.800.000.000 (Một tỷ, tám trăm triệu) đồng; thời hạn cho vay 06 tháng từ 26/8/2023 đến 25/02/2024; lãi suất trong hạn 8,20%/năm và được cố định trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày kế tiếp ngày bên được cấp tín dụng nhận tiền vay, lãi suất vay được điều chỉnh 03 tháng/lần theo công thức: Lãi suất vay (%/năm) = LSCS + 2,00%/năm; lãi suất quá hạn 150% lãi suất trong hạn; lãi suất phạt chậm trả lãi 10%/năm.
Khoản nợ nêu trên được bảo đảm bằng các biện pháp bảo đảm sau:
Thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 17, Tờ bản đồ số 14, địa chỉ: D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 245285, số vào sổ cấp GCN: CN03230 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/6/2023 cho bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ. Tài sản thế chấp theo: Hợp đồng thế chấp tài sản số NTP.BĐDN.177.160823 được công chứng tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 18/8/2023, số công chứng 012189, quyển số 8/2023 TP/CC-SCC/HĐGD, được đăng ký biện pháp bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/8/2023; Cam kết thế chấp tài sản ngày 22/3/2023 của bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ.
Bảo lãnh của bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ theo Giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 18/8/2023. Theo đó, bên bảo lãnh đồng ý trả thay cho bên được cấp tín dụng (Công ty P) các khoản nợ của công ty với Ngân hàng khi công ty không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng. Do đó, căn cứ thoả thuận giữa hai bên về việc chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn và chuyển nợ quá hạn, ngày 26/02/2024, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản vay của Khế ước nhận nợ nêu trên sang nợ quá hạn do đã kết thúc thời hạn cho vay từ ngày 25/02/2024. Tính đến ngày 28/3/2024, tổng số nợ còn thiếu là 1.844.087.822 (Một tỷ, tám trăm bốn mươi bốn triệu, không trăm tám mươi bảy nghìn, tám trăm hai mươi hai) đồng (trong đó bao gồm vốn gốc: 1.799.280.565 đồng, lãi trong hạn: 25.071.781 đồng, lãi quá hạn: 19.409.199 đồng, phạt chậm trả lãi: 326.277 đồng).
Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty P trả ngay cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu như trên.
Buộc Công ty P còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ kể từ ngày 29/3/2024 đến ngày trả hết nợ.
Trường hợp Công ty TNHH P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền tài sản số NTP.BĐDN.177.160823 được công chứng tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 18/8/2023, số công chứng 012189, quyển số 8/2023 TP/CC-SCC-HĐGD, đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/8/2023 và theo Cam kết thế chấp tài sản ngày 22/3/2023 của bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Đồng thời, bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 18/8/2023.
Tại đơn trình bày ngày 07/11/2024, bà Phan Thị Ngọc N1 là chủ sở hữu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn P đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà chấp nhận, không có ý kiến gì, đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà đồng ý phát mãi tài sản thế chấp và đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện cho ông Lê Viết Đ tìm chỗ ở mới khi phát mãi tài sản, cụ thể khi có người mua tài sản, nộp tiền vào tài khoản để Ngân hàng thu hồi nợ, Ngân hàng sẽ thông báo tạo điều kiện ông Đ tìm nơi ở mới trong thời hạn 01 tháng.
Bà nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng hiện bà đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T nên bà xin đề nghị được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và tất cả các phiên toà xét xử của Toà án.
Tại bản tự khai ngày 18/9/2024, ông Lê Viết Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đồng thời là người đại diện hợp pháp của trẻ Lê Ngọc Đàm H, trẻ Lê Ngọc Chi L trình bày :
Ông và bà N1 có ký hợp đồng thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á để đảm bảo cho khoản vay của Công ty P. Ông và bà N1 có nhờ Ngân hàng hỗ trợ bán tài sản tuy nhiên chưa xử lý được. Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, ông Đ chấp nhận và đồng ý phát mãi tài sản thế chấp để trả nợ cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa hôm nay:
Ông Hứa Văn N là đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Buộc Công ty P trả ngay cho Ngân hàng tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 21/11/2024 là 1.990.029.870 đồng, trong đó gồm: vốn gốc 1.799.280.565 đồng, lãi trong hạn 25.071.781 đồng, lãi quá hạn 163.716.430 đồng, phạt chậm trả lãi 1.961.094 đồng.
- Buộc Công ty P còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ kể từ ngày 22/11/2024 đến ngày trả hết nợ.
- Nếu Công ty P không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ: D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ. Đồng thời, bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ có trách nhiệm liên đới thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Cam kết.
Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ Ngân hàng đã tạm nộp, đề nghị Công ty P trả cho Ngân hàng ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
Về nội dung: Xét thấy các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, trình bày và yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Pháp luật về tố tụng:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với Công ty Trách nhiệm hữu hạn P. Bị đơn Công ty P có địa chỉ trụ sở tại quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Bà Phan Thị Ngọc N1, ông Lê Viết Đ, trẻ Lê Ngọc Đàm H, trẻ Lê Ngọc Chi L (ông Lê Viết Đ là người đại diện hợp pháp của trẻ Lê Ngọc Đàm H, trẻ Lê Ngọc Chi L) thực tế cư trú trên căn nhà tại địa chỉ D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh nên Tòa án đưa vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên, mã số doanh nghiệp 0313420845, đăng ký thay đổi lần thứ 1 ngày 25/8/2016 thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn P; có trụ sở chính tại 4 T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; có thông tin về chủ sở hữu đồng thời là người đại diện theo pháp luật là bà Phan Thị Ngọc N1, sinh năm 1978; Theo Lệnh bắt bị can để tạm giam số 896/LB-ĐCSKT ngày 04/7/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T và Quyết định phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam số 214/QĐ-VKS-TB ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, bà Phan Thị Ngọc N1, sinh năm 1978, HKTT: D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T.
Về sự có mặt của các đương sự: Bà Phan Thị Ngọc N1, ông Lê Viết Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Phan Thị Ngọc N1, ông Lê Viết Đ.
[2] Pháp luật về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á yêu cầu Công ty P trả ngay cho Ngân hàng tổng số nợ tính đến ngày 21/11/2024 là 1.990.029.870 (Một tỷ, chín trăm chín mươi triệu, hai mươi chín nghìn, tám trăm bảy mươi) đồng, trong đó gồm: vốn gốc 1.799.280.565 đồng, lãi trong hạn 25.071.781 đồng, lãi quá hạn 163.716.430 đồng, phạt chậm trả lãi 1.961.094 đồng.
Căn cứ Hợp đồng cấp tín dụng số NTP.DN.1927.160823 ngày 18/8/2023 và Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung NTP.DN.1880.160823 ngày 18/8/2023 ký kết giữa Ngân hàng và Công ty P; Khế ước nhận nợ số [...] ngày 25/8/2023; Hợp đồng thế chấp tài sản số NTP.BĐDN.177.160823 được công chứng tại Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 18/8/2023, số công chứng 012189, quyển số 8/2023 TP-CC-SCC-HĐGD, được đăng ký biện pháp bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/8/2023; Cam kết thế chấp tài sản ngày 22/3/2023 và Giấy cam kết về việc trả nợ ngày 18/8/2023 của bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ; Căn cứ chứng từ giải ngân, bảng chi tiết gốc lãi và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và sự thừa nhận của bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ trong quá trình giải quyết vụ
án Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định Công ty P có ký vay của Ngân hàng số tiền vay là 1.800.000.000 (Một tỷ, tám trăm triệu) đồng, khoản vay có thời hạn, có tài sản đảm bảo, có bảo lãnh.
Xét, Ngân hàng Thương mại cổ phần Á là tổ chức tín dụng được cấp phép hoạt động, hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và Công ty P được ký kết trên cơ sở tự nguyện; việc thỏa thuận lãi vay, lãi trong hạn, quá hạn giữa các bên là phù hợp pháp luật theo quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì Công ty P có nghĩa vụ trả số tiền nợ vay nêu trên cho Ngân hàng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng.
Đồng thời, Công ty P có nghĩa vụ tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 22/11/2024 theo mức lãi suất quy định tại Thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung, Hợp đồng cấp tín dụng, Khế ước nhận nợ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á cho đến khi trả hết nợ.
[2.2] Thời hạn trả: Ngân hàng yêu cầu Công ty P trả toàn bộ số nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy Công ty vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bà N1 và ông Đ thống nhất yêu cầu của Ngân hàng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng.
[2.3] Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á yêu cầu phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ trong trường hợp Công ty không thực hiện hoặc thực hiện không đủ nghĩa vụ trả khoản nợ trên cho Ngân hàng; đồng thời, bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 18/8/2023, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hợp đồng thế chấp tài sản số NTP.BĐDN.177.160823 ký kết ngày 18/8/2023 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á và ông Lê Viết Đ, bà Phan Thị Ngọc N1 được chứng nhận theo số công chứng 012189, quyển số 8/2023TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng công chứng số 4 Thành phố C; chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 21/8/2023.
Theo hợp đồng, ông Đ, bà N1 thế chấp tài sản đảm bảo khoản vay là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 17, Tờ bản đồ số 14, địa chỉ: D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH 245285, số vào sổ cấp GCN: CN03230 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/6/2023 cho bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ. Theo Giấy cam kết về việc trả nợ ngày 18/8/2023, ông Lê Viết Đ và bà Phan Thị Ngọc N1 tự nguyện cam kết trả thay các khoản nợ cho công ty P trường hợp công ty không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ.
Xét, hợp đồng thế chấp được ký kết trên cơ sở tự nguyện và thực hiện theo đúng quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm (có ký hợp đồng thế chấp theo quy định và đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền) nên việc thế chấp phát sinh hiệu lực pháp luật; việc ông Đ bà N1 cam kết trả thay khi công
ty không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ là tự nguyện, không trái quy định pháp luật. Căn cứ Điều 299, khoản 7 Điều 323, Điều 335, 336 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 8. xử lý tài sản thế chấp của Hợp đồng thế chấp thì trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Đồng thời, có quyền yêu cầu bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 18/8/2023.
Xét yêu cầu này là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.4] Căn cứ Điều 307 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và thỏa thuận của các bên khi thế chấp tài sản thì trường hợp phát mãi tài sản thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ, sau khi thực hiện xong tất cả nghĩa vụ phát sinh theo quy định mà giá trị tài sản thế chấp còn lại sau khi phát mãi không đủ thanh toán hết nợ cho Ngân hàng thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn P và ông Lê Viết Đ, bà Phan Thị Ngọc N1 tiếp tục trả cho đến khi hết nợ; trường hợp giá trị tài sản thế chấp còn lại sau khi phát mãi thừa thì được trả lại cho ông Lê Viết Đ, bà Phan Thị Ngọc N1, trừ trường hợp tài sản thế chấp còn đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ khác tại Ngân hàng.
Trường hợp phát mãi tài sản thế chấp thì ông Lê Viết Đ và những người ở trên tài sản thế chấp tại thời điểm phát mãi có trách nhiệm di dời tài sản cá nhân của mình đồng thời thực hiện bàn giao tài sản thế chấp cho cơ quan có thẩm quyền.
[2.5] Căn cứ Điều 322 của Bộ luật Dân sự năm 2015, bên nhận thế chấp có trách nhiệm trả lại giấy tờ cho bên thế chấp sau khi chấm dứt thế chấp, do đó ngay sau khi khoản nợ được trả hết thì Ngân hàng có nghĩa vụ thực hiện giải chấp tài sản bảo đảm theo quy định và trả lại cho bà Phan Thị Ngọc N1, ông Lê Viết Đ giấy tờ tài sản thế chấp là bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH245285, số vào sổ cấp GCN: CN03230 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/6/2023 cho bà Phan Thị Ngọc N1, ông Lê Viết Đ. Trừ trường hợp tài sản thế chấp còn đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ khác tại Ngân hàng.
[3] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Ngân hàng, xét đề nghị này có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng do Ngân hàng tạm nộp, bị đơn có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng số tiền này là phù hợp quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn P trả Ngân hàng số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
[5] Về án phí sơ thẩm: Do Công ty Trách nhiệm hữu hạn P có nghĩa vụ thanh toán tiền còn nợ cho Ngân hàng nên phải có nghĩa vụ chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Hoàn lại cho Ngân hàng tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 30, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273, Điều 278; khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các điều 299, 317, 319, 320 khoản 6, 322, 323, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91, Điều 95, khoản 3 Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á:
1.1 Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn P trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền tính đến ngày 21/11/2024 là 1.990.029.870 (Một tỷ, chín trăm chín mươi triệu, hai mươi chín nghìn, tám trăm bảy mươi) đồng, trong đó gồm: vốn gốc 1.799.280.565 đồng, lãi trong hạn 25.071.781 đồng, lãi quá hạn 163.716.430 đồng, phạt chậm trả lãi 1.961.094 đồng là nghĩa vụ phát sinh theo Hợp đồng cấp tín dụng số NTP.DN.1927.160823 ngày 18/8/2023 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á và Công ty Trách nhiệm hữu hạn P.
Thời hạn trả: Trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Công ty Trách nhiệm hữu hạn P tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả lãi phát sinh từ ngày 22/11/2024 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng cấp tín dụng số NTP.DN.1927.160823 ngày 18/8/2023, Thoả thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng chung NTP.DN.1880.160823 ngày 18/8/2023 và Khế ước nhận nợ số [...] ngày 25/8/2023 cho đến khi trả hết nợ.
1.2. Ngay sau khi Công ty Trách nhiệm hữu hạn P trả hết nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á có nghĩa vụ thực hiện giải chấp tài sản bảo đảm theo quy định và trả lại cho bà Phan Thị Ngọc N1, ông Lê Viết Đ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH245285, số vào sổ cấp GCN: CN03230 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/6/2023 cho bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ. Trừ trường hợp tài sản thế chấp còn đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ khác tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.
1.3. Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn P không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Thửa đất số 17, Tờ bản đồ số 14, địa chỉ: D T, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DH245285, số vào sổ cấp GCN: CN 03230 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/6/2023 cho bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ)
theo Hợp đồng thế chấp tài sản số NTP.BĐDN.177.160823 ngày 18/8/2023 ký kết giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á và ông Lê Viết Đ, bà Phan Thị Ngọc N1; Cam kết thế chấp tài sản ngày 22/3/2023.
Đồng thời, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á được quyền yêu cầu bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo Giấy cam kết về việc trả nợ lập ngày 18/8/2023.
1.4 Quá trình phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á, sau khi thực hiện xong tất cả nghĩa vụ theo quy định mà giá trị tài sản thế chấp phát mãi không đủ trả hết nợ cho Ngân hàng thì Công ty Trách nhiệm hữu hạn P, bà Phan Thị Ngọc N1 và ông Lê Viết Đ tiếp tục trả cho đến khi hết nợ; trường hợp giá trị tài sản thế chấp sau phát mãi còn thừa thì được trả lại cho ông Lê Viết Đ, bà Phan Thị Ngọc N1; trừ trường hợp tài sản thế chấp còn đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ khác tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.
2/ Về chi phí tố tụng: Công ty Trách nhiệm hữu hạn P có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
3/ Về án phí: Công ty Trách nhiệm hữu hạn P phải nộp án phí sơ thẩm là 71.700.896 (Bảy mươi mốt triệu, bảy trăm nghìn, tám trăm chín mươi sáu) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 33.661.317 (Ba mươi ba triệu, sáu trăm sáu mươi mốt nghìn, ba trăm mười bảy) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001927 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
4/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Toà án nhân dân TP. HCM; - VKSND Q.Tân Bình; - Chi cục THADS Q. Tân Bình; - Các đương sự; - Lưu: VP, hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bành Kim Phượng |
Bản án số 335/2024/KDTM-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 335/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
