|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 335/2024/HNGĐ-ST Ngày: 30 – 8 – 2024 V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Trường Huân và ông Nguyễn Thiện Hoàn.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 232/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 408/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 469/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Phú T, sinh năm 1985; địa chỉ: Số nhà B, tổ B, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1984; địa chỉ: Số nhà B, tổ B, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.
Ông Phạm Phú T vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bà Phạm Thị H vắng mặt không rõ lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của ông Phạm Phú T; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Ông T và bà H tự tìm hiểu, sau đó được cha mẹ cho tiến đến hôn nhân vào năm 2007, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã V, huyện A, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60, quyển số 01 ngày 14 tháng 6 năm 2007. Quá trình chung sống, cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Nguyên nhân do bà H không chung thủy, có mối quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Bà H tự ý bỏ nhà đi từ năm 2019 và cả hai không còn chung sống từ đó cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà H.
Về con chung: Quá trình chung sống có 02 (hai) con chung tên: Phạm Chí K, sinh ngày 30/6/2009 và Phạm Chí K1, sinh ngày 16/7/2013. Con chung hiện đang sống với ông T. Ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung và không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông T khai không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập bà Phạm Thị H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải về vấn đề con chung vào ngày 15/7/2024 nhưng bà H vắng mặt không rõ lý do. Do đó, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà H, bà H cũng không cung cấp bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Ngày 15/7/2024, ông T có đơn yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án, yêu cầu không tiến hành hòa giải và xin được vắng mặt khi vụ án được đưa ra xét xử do bận công việc làm ăn.
- Về tài liệu, chứng cứ:
Tài liệu, chứng cứ do ông T giao nộp; bản sao Trích lục khai sinh mang tên Phạm Chí K và Phạm Chí K1; bản sao Căn cước công dân mang tên Phạm Phú T; Giấy đăng ký kết hôn; trích lục thay đổi hộ tạch Phạm Thị H.
Tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập: Thông báo định danh cá nhân bà Phạm Thị H ngày 17/5/2024 tại Công an xã P, huyện A; bản tự khai của bà Châu Thị M ngày 16/7/2024; biên bản ghi nhận ý kiến của cháu Phạm Chí K1 và Phạm Chí K ngày 15/7/2024.
Tại phiên tòa, do ông Phạm Phú T và bà Phạm Thị H vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
- Theo biên bản ghi nhận ý kiến con chung cùng ngày 15/7/2024, cháu Phạm Chí K và cháu Phạm Chí K1 đều mong muốn được tiếp tục chung sống với ông T.
- Theo Thông báo định danh cá nhân và thông tin công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư ngày 15/7/2024 của Công an xã P, huyện A thì bà Phạm Thị H, sinh ngày 22/11/1984 có nơi thường trú: Số nhà B, tổ B, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang. Họ tên cha: Phạm Văn B. Họ tên mẹ: Châu Thị M.
- Theo bản tự khai người làm chứng ngày 16/7/2024, bà Châu Thị M cho biết: Bà M là mẹ ruột của bà Phạm Thị H, bà M biết rõ mâu thuẫn gia đình giữa ông Phạm Phú T và bà Phạm Thị H nên bà M cung cấp cho Tòa như sau: Ông T và bà H tự tìm hiểu, quen biết và được gia đình cho tiến đến hôn nhân vào năm 2007, có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân (UNBD) xã V, huyện A, tỉnh An Giang. Quá trình chung sống, cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Ông T và bà H không sống chung từ đầu năm 2019 cho đến nay. Cả hai có 02 con chung là cháu: Phạm Chí K và Phạm Chí K1 sống chung với ông T từ nhỏ cho đến nay. Về tài sản chung và nợ chung của ông T và bà H thì bà M không rõ. Do lớn tuổi, sức khỏe yếu nên bà M yêu cầu được vắng mặt khi Tòa án triệu tập và tham gia tố tụng tại Tòa án.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Ông Phạm Phú T có yêu cầu xét xử vắng mặt, bà Phạm Thị H vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; về con chung, đề nghị giao cháu Phạm Chí K, sinh ngày 30/6/2009 và Phạm Chí K1, sinh ngày 16/7/2013 cho ông T được tiếp tục nuôi và bà H không phải cấp dưỡng để nuôi con chung; về tài sản chung và nợ chung, ông T khai không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên không đề cập giải quyết; về án phí; ông T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo luật định, bà H không phải chịu án phí.
Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng bị đơn bà Phạm Thị H đều vắng mặt không lý do; đồng thời, bà H đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do. Như vậy, bà H đã tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tham gia tố tụng của mình. Nguyên đơn ông Phạm Phú T có đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải và yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, vụ án được xem là không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thẩm quyền giải quyết:
Bà Phạm Thị H có nơi thường trú: Số nhà B, tổ B, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và quy định tại Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Phú T và bà Phạm Thị H chung sống không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Cả hai đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa ông T và bà H đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3.2] Về con chung: Quá trình chung sống có 02 (hai) con chung tên: Phạm Chí K, sinh ngày 30/6/2009 và Phạm Chí K1, sinh ngày 16/7/2013. Con chung hiện đang sống với ông T và ông T yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung.
Sau khi xem xét yêu cầu của ông T, nguyện vọng của con chung. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận để ông T được tiếp tục nuôi dạy con chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã giải thích cho ông T về quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung đối với người không trực tiếp nuôi con chung, cũng như nghĩa vụ cấp dưỡng của người không trực tiếp nuôi con chung, nhưng ông T vẫn giữ nguyên ý kiến của mình về việc không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định công nhận sự tự nguyện của ông T trong việc không yêu cầu bà H cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Bà Phạm Thị H cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Phạm Phú T. Ngược lại, ông Phạm Phú T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà Phạm Thị H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Phạm Phú T khai không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên nếu sau này bà Phạm Thị H có yêu cầu về tài sản chung, nợ chung thì Tòa án sẽ xem xét giải quyết bằng vụ kiện khác.
[4] Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Ông Phạm Phú T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; bà Phạm Thị H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo: Bà H và ông T có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228; các điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Phú T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Phú T được ly hôn với bà Phạm Thị H.
2. Về con chung: Ông Phạm Phú T được trực tiếp nuôi dạy 02 (hai) con chung tên: Phạm Chí K, sinh ngày 30/6/2009 và Phạm Chí K1, sinh ngày 16/7/2013. Bà Phạm Thị H không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.
Bà Phạm Thị H cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Phạm Phú T. Ngược lại, ông Phạm Phú T cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà Phạm Thị H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Ông Phạm Phú T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà ông T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009536 ngày 26/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Bà Phạm Thị H không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt ông Phạm Phú T và bà Phạm Thị H. Ông T và bà H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Tuân |
Bản án số 335/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 335/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Ông Thành và bà Hiền tự tìm hiểu, sau đó được cha mẹ cho tiến đến hôn nhân vào năm 2007, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Vĩnh Hậu, huyện An Phú, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60, quyển số 01 ngày 14 tháng 6 năm 2007. Quá trình chung sống, cả hai phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Nguyên nhân do bà Hiền không chung thủy, có mối quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Bà Hiền tự ý bỏ nhà đi từ năm 2019 và cả hai không còn chung sống từ đó cho đến nay. Do tình cảm vợ chồng không còn nên ông Thành yêu cầu được ly hôn với bà Hiền. Về con chung: Quá trình chung sống có 02 (hai) con chung tên: Phạm Chí Khả, sinh ngày 30/6/2009 và Phạm Chí Khá, sinh ngày 16/7/2013. Con chung hiện đang sống với ông Thành. Ông Thành yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung và không yêu cầu bà Hiền cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Thành khai không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
