Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 335/2024/HS-PT

Ngày 13 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Dũng

Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên

Ông Vũ Ngọc Huynh

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngụy Tiến Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Mận - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 910/2023/TLPT-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Huỳnh Thế V; Do có kháng cáo của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2023/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo: Huỳnh Thế V, sinh năm 1962 tại Tây Ninh; Nơi cư trú: Đường 3/2, Khu phố 6, Phường 3, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí, nguyên là Phó Trưởng phòng trinh sát Bộ đội biên phòng tỉnh Tây Ninh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn Ph (đã chết) và bà Trà Thị M, sinh năm 1930; vợ tên Lê Thị H, sinh năm 1962; con 03 người, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1987; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị tạm giam từ ngày 12/8/2022 đến nay.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trương Quốc Ph – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

- Bị hại có kháng cáo, liên quan đến kháng cáo:

  1. Ông Lê Văn G, sinh năm 1963 và bà Võ Thị Ch, sinh năm 1968; địa chỉ: tổ 5, ấp H, xã T, huyện T1, tỉnh Tây Ninh. (có mặt ông G)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông G, bà Ch: Luật sư Nguyễn Thụy Hải Đ - Đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

  1. Bà Hà Thị Ph, sinh năm 1981; Địa chỉ: Đường số 31, Khu phố 2, Phường H, thành phố Th, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Hà Thị Ph: Bà Lê Thị Thúy H, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện Ch, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

  1. Bà Lê Thị Thúy H, sinh năm 1984; Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện Ch, tỉnh Bến Tre. (có mặt)
  2. Ông Phạm Đức V, sinh năm 1992, Địa chỉ: Tổ 1, ấp 1B, xã P, huyện P1, tỉnh Bình Dương. (có mặt)
  3. Ông Phạm Bảo Q, sinh năm 1983, Địa chỉ: ấp P2, xã P3, huyện D, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
  4. Ông Hồ V1, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp 1B, xã P, huyện P1, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)
  5. Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp P2, xã P3, huyện D, tỉnh Tây Ninh. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo, liên quan đến kháng cáo:

  1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1975; Địa chỉ: Khu phố 2, thị trấn T1, huyện T1, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
  2. Chị Huỳnh Thị Tường V, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp P4, xã P5, thị xã Tr, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)
  3. Bà Cao Thị L, sinh năm 1974; Địa chỉ: ấp C, xã Th, huyện D, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)
  4. Ông Dương Quốc H, sinh năm 1994; Địa chỉ: ấp B, xã Th, huyện D, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

(Trong vụ án, còn có 30 bị hại, 06 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Huỳnh Thế V và vợ chồng bị hại ông Lê Văn G, bà Võ Thị Ch quen biết nhau từ khoảng năm 2018. Ngày 04/4/2019, bị cáo V biết vợ chồng ông G, bà Ch có nhu cầu sang nhượng nhà đất nên bị cáo V đặt vấn đề mua của ông G, bà Ch 01 phần đất diện tích 3.556,7m² (trên đất có 01 căn nhà cấp 3, diện tích xây dựng 124,05m²) với giá 3.200.000.000 đồng, bị cáo V hẹn đến ngày 15/4/2019 sẽ trả đủ tiền thì vợ chồng ông G, bà Ch đồng ý. Sau khi nhận chuyển nhượng nhà, đất, bị cáo V không đứng tên giấy tờ mà nhờ ông Nguyễn Việt Th (là con của ông Nguyễn Văn Th1 là bạn bị cáo V) đứng tên người chuyển nhượng và hứa nhận ông Th vào làm việc cho Công ty của bị cáo V sẽ thành lập tại huyện T1, tỉnh Tây Ninh thì ông Th đồng ý, ông Th cùng ông G, bà Ch đến Phòng công chứng số 3 tỉnh Tây Ninh ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Th. Sau đó, bị cáo V yêu cầu ông Th thế chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để vay tiền Ngân hàng cho bị cáo V thì ông Th không đồng ý đứng tên người mua trên hợp đồng chuyển nhượng. Lúc này, bị cáo V nhờ con ruột là Huỳnh Thị Tường V đứng tên giấy đất, đến ngày 04/5/2019, ông Th đến Văn phòng công chứng T ký tên chuyển nhượng phần đất trên lại cho chị V, giá trị chuyển nhượng ghi trên hợp đồng là 500.000.000 đồng. Sau khi chị V được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (số giấy chứng nhận CR 234306, số vào sổ cấp GCN: CS05173, ngày 20/5/2019) thì thế chấp cho Ngân hàng sau đó bị cáo V bán nhà, đất này cho một người môi giới tên Th2 (chưa rõ lai lịch) với giá 2.450.000.000 đồng, ông Th2 bán lại cho vợ chồng ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị L với giá 2.700.000.000 đồng. Đến ngày 05/3/2020, chị V đến Văn phòng công chứng số 3 tỉnh Tây Ninh ký tên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông L, bà L. Ông L, bà L được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tây Ninh cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (số giấy chứng nhận CV 025652, số vào sổ cấp GCN: CS 06301, ngày 17/3/2020). Số tiền sang nhượng nhà đất của ông G có được, bị cáo V không trả tiền cho ông G, bà Ch, sử dụng tiêu xài cá nhân. Ông G, bà Ch không liên lạc được.

Ngoài ra, bị cáo V còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 36 bị hại thông qua hợp đồng đặt cọc phân lô, bán nền đất. Cụ thể:

Vào ngày 20/01/2022, bị cáo V sang nhượng 01 phần đất trồng cây hàng năm (BHK), diện tích khoảng 1,6 ha tại ấp B, xã C, huyện D, tỉnh Tây Ninh của ông Nguyễn Hữu T với giá 2.500.000.000 đồng, bị cáo V trả cho ông Tỏa được 1.900.000.000 đồng (đặt cọc 200.000.000 đồng, chuyển khoản 1.700.000.000 đồng). Khi bị cáo V sang nhượng đất thì phần đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nằm trong quy hoạch dự kiến mở rộng giai đoạn 2 Khu Công nghiệp C, không đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng thành đất ở theo Quyết định số 3742/QĐ-UBND ngày 30/12/2021 của UBND tỉnh Tây Ninh về việc phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2022 của UBND huyện D, tỉnh Tây Ninh.

Sau khi nhận chuyển nhượng, bị cáo V thuê ông Phạm Tấn Ph làm tại Công ty cổ phần đo đạc địa chính Tây Ninh vẽ sơ đồ phân lô phần đất trên thành 90 lô đất, bị cáo V trả tiền công cho ông Ph 2.000.000 đồng. Sau đó, bị cáo V trực tiếp rao bán hoặc thông qua những người môi giới (cò đất), để sang nhượng đất nền. Khi có người chấp nhận sang nhượng thì bị cáo V nhận tiền cọc, hẹn đến ngày 31/5/2022 giao đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bị cáo V hứa mỗi lô có từ 30m² đến 50m² đất ở, sau khi nhận đất thì trả đủ tiền cho bị cáo V. Từ ngày 12/02/2022 đến ngày 27/02/2022, bị cáo V ký hợp đồng đặt cọc bán 78 lô đất cho 36 bị, hại với tổng số tiền 20.035.000.000 đồng, nhận tiền đặt cọc 4.965.000.000 đồng. Với số tiền chiếm đoạt được bị cáo V sử dụng vào mục đích cá nhân sau đó lẩn tránh bị hại, tắt máy điện thoại, trốn không liên lạc được, đến ngày 12/8/2022 thì bị bắt tạm giam.

Cụ thể số tiền bị cáo V đã chiếm đoạt của 36 bị hại như sau: Bà Hà Thị Ph số tiền 180.000.000 đồng; bà Lê Thị Thúy H số tiền 60.000.000 đồng, ông Phan Văn Tr số tiền 100.000.000 đồng, ông Dương Trung K số tiền 50.000.000 đồng, ông Phạm Đức V số tiền 260.000.000 đồng, ông Phạm Bảo Q số tiền 50.000.000 đồng, ông Trương Văn L số tiền 140.000.000 đồng, ông Lê Hoàng T số tiền 70.000.000 đồng, ông Hồ V1 số tiền 100.000.000 đồng, bà Nguyễn Thanh Th số tiền 120.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Ph số tiền 180.000.000 đồng, ông Trần Công Th2 số tiền 100.000.000 đồng, bà Trần Ngọc D số tiền 400.000.000 đồng, bà Đinh Thị H số tiền 300.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị S số tiền 100.000.000 đồng, bà Lê Ngọc H số tiền 55.000.000 đồng, bà Lê Thị Kim H số tiền 60.000.000 đồng, ông Nguyễn Duy T số tiền 120.000.000 đồng, ông Phạm Đình Th số tiền 300.000.000 đồng, bà Nguyễn Thái H số tiền 120.000.000 đồng, bà H Thị Ngọc G số tiền 360.000.000 đồng, bà Trần Thị X số tiền 300.000.000 đồng, ông Đỗ Minh T số tiền 60.000.000 đồng, bà Trần Thị H số tiền 180.000.000 đồng, ông Nguyễn Duy Kh số tiền 60.000.000 đồng, bà Lê Thị Tr số tiền 50.000.000 đồng, bà H Thị Huỳnh Nh số tiền 50.000.000 đồng, ông Lê Văn Th số tiền 300.000.000 đồng, bà Phan Thị Th số tiền 60.000.000 đồng, ông Nguyễn Quang Đ số tiền 100.000.000 đồng, ông Vi Văn Th số tiền 50.000.000 đồng, ông Phạm Hữu Q số tiền 250.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Thu Tr số tiền 60.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Nh số tiền 60.000.000 đồng, ông Ngô Văn Th số tiền 100.000.000 đồng, ông Võ Văn H số tiền 60.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2023/HS-ST ngày 23 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thế V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ khoản 4 Điều 175; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thế V 12 (mười hai) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Thế V 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tổng hợp hình phạt theo Điều 55 của Bộ luật Hình sự. Buộc bị cáo Huỳnh Thế V phải chấp hành hình phạt chung cho cả 2 tội là 26 (hai mươi sáu) năm tù. Thời hạn thi hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2022.

Về bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 288, 289 của Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Huỳnh Thế V và chị Huỳnh Thị Tường V có nghĩa vụ liên đới bồi thường số tiền 4.965.000.000 đồng cho những bị hại cụ thể sau:

  1. Bà Hà Thị Ph: 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng);
  1. Bà Lê Thị Thuý H: 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng);
  2. Ông Phan Văn Tr: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng);
  3. Ông Dương Trung K: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng);
  4. Ông Phạm Đức V: 260.000.000 đồng (hai trăm sáu mươi triệu đồng);
  5. Ông Phạm Bảo Q: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng);
  6. Ông Trương Văn L: 140.000.000 đồng (một trăm bốn mươi triệu đồng);
  7. Ông Lê Hoàng T: 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng);
  8. Ông Hồ V1: 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng);
  9. Bà Nguyễn Thanh Th: 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng);
  10. Bà Nguyễn Thị Ph: 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng);
  11. Ông Trần Công Th2: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng);
  12. Bà Trần Ngọc D: 400.000.000 đồng (bốn trăm triệu đồng);
  13. Bà Đinh Thị H: 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng);
  14. Bà Nguyễn Thị S: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng);
  15. Bà Lê Ngọc H: 550.000.000 đồng (năm mươi lăm triệu đồng);
  16. Bà Nguyễn Thị Kim H: 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng);
  17. Ông Nguyễn Duy T: 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng);
  18. Ông Phạm Đình Th: 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng);
  19. Bà Nguyễn Thái H: 120.000.000 đồng (một trăm hai mươi triệu đồng);
  20. Bà H Thị Ngọc G: 360.000.000 đồng (ba trăm sáu mươi triệu đồng);
  21. Bà Trần Thị X: 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng);
  22. Ông Đỗ Minh T: 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng);
  23. Bà Trần Thị H: 180.000.000 đồng (một trăm tám mươi triệu đồng);
  24. Ông Nguyễn Duy Kh: 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng);
  25. Bà Lê Thị Tr: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng);
  26. Bà H Thị Huỳnh Nh: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng);
  27. Ông Lê Văn Th: 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng);
  28. Bà Phan Thị Th: 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng);
  29. Ông Nguyễn Quang Đ: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng);
  30. Ông Vi Văn Th: 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng);
  31. Ông Phạm Hữu Q: 250.000.000 đồng (hai trăm năm mươi triệu đồng);
  32. Bà Nguyễn Thị Thu Tr: 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng);
  33. Bà Nguyễn Thị Nh: 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng);
  34. Ông Ngô Văn Th: 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng);
  35. Ông Võ Văn H: 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng);

Buộc ông Nguyễn Hữu T giao nộp lại số tiền 1.900.000.000 đồng (một tỷ chín trăm triệu đồng) để đảm bảo việc thi hành án cho các bị hại trên.

Buộc ông Phạm Tấn Ph nộp lại số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng); bà Nguyễn Thị Ngọc X và ông Hồ Văn X mỗi người nộp lại số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) là tiền hưởng tiền cò bán đất; ông Võ Văn H nộp lại 48.000.000 đồng (bốn mươi tám triệu đồng) tiền cò đất. Các khoản tiền trên nộp để đảm bảo việc thi hành án cho các bị hại trên.

2/. Buộc bị cáo Huỳnh Thế V và chị Huỳnh Thị Tường V có nghĩa liên đới bồi thường cho ông Lê Văn G, bà Võ Thị Ch số tiền 3.200.000.000 đồng (ba tỷ hai trăm triệu đồng).

3/. Tiếp tục duy trì Lệnh phong toả tài khoản số 01/LPT-VPCQCSĐT ngày 21 tháng 3 năm 2023 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Tây Ninh đối với số tiền 20.370.215 đồng của Huỳnh Thế V trong tài khoản số [...] tại Ngân hàng Thương mại cổ phần B - Chi nhánh Tây Ninh cho đến khi bản án có hiệu lực thi hành.

4/. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

III/. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm (xử lý vật chứng gồm điện thoại, thẻ ATM, thẻ Đảng viên, xe ô tô, cặp da; án phí sơ thẩm) không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

IV/. Về án phí phúc thẩm:

Bị cáo Huỳnh Thế V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn L 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000088 ngày 05/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.

V/. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

VI/. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND tỉnh Tây Ninh (2);
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh (1);
  • - Cục THADS tỉnh Tây Ninh (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh (1);
  • - Công an tỉnh Tây Ninh (1);
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Tây Ninh (2);
  • - Bị hại (7);
  • - NLQ (3);
  • - Lưu VP (3), HS (2).25b.NTT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thanh Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 335/2024/HS-PT ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 335/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 02/4/2019, bị cáo Huỳnh Thế V thỏa thuận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê Văn G, bà Võ Thị Ch diện tích đất 3.556,7m2, thửa 305, tờ bản đồ số 73, tọa lạc tại ấp H, xã T, huyện T1, tỉnh Tây Ninh với giá 3.200.000.000 đồng; ngày 04/4/2019 hai bên công chứng hợp đồng chuyển nhượng và ngày 15/4/2019, bị cáo V thanh toán cho vợ chồng ông G, bà Chánh toàn bộ số tiền nhận chuyển nhượng. Ngày 04/4/2019, bị cáo nhờ anh Nguyễn Việt Th đứng tên giùm để ký kết hợp đồng chuyển nhượng với vợ chồng ông G, bà Ch tại Văn phòng công chứng. Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 04/5/2019, anh Thắng chuyển nhượng lại cho chị Huỳnh Thị Tường V (con bị cáo V) để chị V đứng tên giùm. Sau đó, bị cáo V chuyển nhượng phần đất trên cho ông Thanh (chưa rõ lai lịch) với giá 2.450.000.000 đồng; ông Thanh chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị L với giá 2.700.000.000 đồng. Ngày 05/3/2020, chị V ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị L tại Phòng công chứng để hoàn tất thủ tục chuyển nhượng. Đến nay, số tiền thanh toán của hợp đồng chuyển nhượng ngày 04/4/2019 (3.200.000.000 đồng) bị cáo V chưa trả cho vợ chồng ông G, bà Ch.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger