Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 335/2024/HS-ST

Ngày: 03-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thái Hòa
  2. Bà Thiều Thị Phi Loan

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 326/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 321/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Hải Đ. Giới tính: Nam

Tên gọi khác: Không.

Sinh năm 2002. Tại Cà Mau.

Nơi cư trú: Không xác định (Hộ khẩu thường trú: 39/4, khóm D, phường D, thành phố C, tỉnh Cà Mau).

Quốc tịch: Việt Nam ; Dân tộc: Kinh ;- Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Công nhân ; – Trình độ học vấn: 09/12.

Họ tên cha: Lê Phước H- Sinh năm: 1971, còn sống

Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Hồng N-Sinh năm: 1972, đã chết

Bị cáo là con út trong gia đình có 03 (Ba) chị em. Chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không

Ngày 25-4-2024, Lê Hải Đ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận S, thành phố Đà Nẵng khởi tố vụ án, khởi tố vị can về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo Điều 260 Bộ luật hình sự.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 20-3-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

(Có mặt)

2. Họ và tên: Phan Nhựt H1. Giới tính: Nam

Tên gọi khác: Không.

Sinh năm 2002. Tại An Giang.

Nơi cư trú: Không xác định (Hộ khẩu thường trú: ấp G, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau).

Quốc tịch: Việt Nam ; – Dân tộc: Kinh ; – Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Không ; – Trình độ học vấn: 06/12.

Họ tên cha: Phan Văn S- Sinh năm: 1970, đã chết

Họ tên mẹ: Huỳnh Thị Ánh T-Sinh năm: 1970, còn sống

Bị can là con duy nhất trong gia đình. Chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 21-02-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

(Có mặt).

- Bị hại: Anh Trịnh Công M, sinh năm 1997.

Địa chỉ: A, tổ B, khu phố C, phường T, TP ., tỉnh Đồng Nai.

(Có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Nội dung chính của vụ án:

Lê Hải Đ và Phan Nhựt H1 là bạn bè quen biết với nhau. Khoảng 23 giờ 00 ngày 17-02-2024, H1 điều khiển xe mô tô biển số 61E1-428.01 chở Đ đến tiệm internet “Xcenter Gaming” tại địa chỉ tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai để chơi game. Đến khoảng 03 giờ 10 phút ngày 18-02-2024, Đ bỏ ra ngoài hút thuốc, phát hiện chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 59C2-318.60 của anh Trịnh Công M ngụ tại tổ B, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (là khách đến chơi game) để trong khu vực nhà xe, chìa khoá cắm sẵn trên xe nên Đ rủ H1 trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài thì H1 đồng ý.

Thực hiện ý định trên, Đ điều khiển xe mô tô biển số 61E1-428.01 ra ngoài cảnh giới, còn H1 đi đến vị trí xe mô tô Exciter biển số 59C2-318.60, ngồi lên xe, đẩy chiếc xe ra ngoài cổng rồi cùng Đ bỏ chạy về hướng huyện L, tỉnh Đồng Nai. Tại đây, Đ gặp Q (Không rõ họ, địa chỉ) nhờ Q bán chiếc xe mô tô vừa trộm cắp được thì Q đồng ý. Sau đó, Q bán chiếc xe trên cho 01 (Một) người (Không rõ họ, tên, địa chỉ) được 2.400.000đ (Hai triệu bốn trăm nghìn đồng), Đ cho Q 400.000₫ (Bốn trăm nghìn đồng), còn lại 2.000.000đ (Hai triệu đồng) thì H1 và Đ chia mỗi người 1.000.000đ (Một triệu đồng), đã tiêu xài hết.

Sự việc xảy ra, anh M đến Công an phường T trình báo. Đến ngày 20-02-2024, H1 đến Công an phường T để đầu thú, Công an phường T lập hồ sơ, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra, xử lý. Đến ngày 20-3-2024, Đ đến Công an phường T để đầu thú.

Vật chứng vụ án, gồm:

  • 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 61E1-428.01 thu giữ của Phan Nhựt H1 hiện chưa xác định được chủ sở hữu nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
  • Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 59C2-318.60 của anh Trịnh Công M, sau khi trộm cắp được Đ và H1 đã nhờ Q mang bán cho 01 (Một) người (Không rõ họ tên, địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 21-02-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (Một) xe mô tô biển số 59C2-318.60 có giá trị định giá là 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng)”.

Trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo H1 đã bồi thường số tiền 20.000.000đ cho anh Trịnh Công M khắc phục hậu quả nên anh M không yêu cầu gì thêm.

2. Truy tố:

Tại Cáo trạng số: 333/CT-VKSBH-HS ngày 31/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Lê Hải Đ và Phan Nhựt H1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị;

Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Lê Hải Đ từ 08 (tám) đến 10 (mười) tháng tù.

Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bị cáo Phan Nhựt H1 từ 06 (sáu) đến 08 (tám) tháng tù.

Buộc các bị cáo chịu án phí theo quy định.

Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng các bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố, tội danh và các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:

- Những chứng cứ xác định có tội:

Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, kết luận định giá tài sản, biên bản lấy lời khai bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 03 giờ 10 phút ngày 18-02-2024, tại tiệm internet “Xcenter Gaming” thuộc tổ A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Hải Đ và Phan Nhựt H1 đã có hành vi trộm cắp 01 (Một) xe mô tô, gắn máy biển số 59C2-318.60 có giá trị định giá là 16.000.000₫ (Mười sáu triệu đồng) của anh Trịnh Công M thì Đ và H1 bị khởi tố, điều tra, xử lý.

- Về tội danh:

Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Lê Hải Đ và Phan Nhựt H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản cáo trạng số 333/CT-VKSBH-HS ngày 31/5/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo về tội “trộm cắp tài sản” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

- Xét tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống của người dân tại các khu dân cư. Các bị cáo là người là người đã trưởng thành, biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội để cải tạo, giáo dục và có tác dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi sự việc xảy ra các bị cáo tự nguyện đến công an đầu thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo Phan Nhựt H1 đã bồi thường khắc phục hậu quả và bị hại có đơn bãi nại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vai trò của từng bị cáo trong vụ án, nhận thấy trong vụ án này Lê Hải Đ là người rủ rê, tích cực thực hiện hành vi phạm tội còn Phan Nhựt H1 là người tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các bị cáo là đồng phạm giản đơn và bị cáo Đ phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo H1.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện tính nhân đạo, sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

[3] Về vật chứng:

  • 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 61E1-428.01 thu giữ của Phan Nhựt H1 hiện chưa xác định được chủ sở hữu nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter, biển số 59C2-318.60 của anh Trịnh Công M, sau khi trộm cắp được Đ và H1 đã nhờ Q mang bán cho 01 (Một) người (Không rõ họ tên, địa chỉ) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.

[4] Về các nội dung khác có liên quan đến vụ án:

Đối với Q (Không rõ họ, địa chỉ) giúp Đ và H1 bán 01 (Một) xe mô tô, gắn máy biển số 59C2-318.60 trộm cắp được và 01 (Một) người (Không rõ họ tên, địa chỉ) đã mua chiếc xe mô tô trên, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa làm việc được nên đã tách ra và tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

[5] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:

Gia đình bị cáo H1 đã bồi thường số tiền 20.000.000đ cho anh Trịnh Công M khắc phục hậu quả, anh M không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[7] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên:

Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

  • - Tuyên bố bị cáo Lê Hải Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Xử phạt bị cáo Lê Hải Đ 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 3 năm 2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):

  • - Tuyên bố bị cáo Phan Nhựt H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Xử phạt bị cáo Phan Nhựt H1 08 (tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 02 năm 2024.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê Hải Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Phan Nhựt H1 phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Các bị cáo được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự TP.Biên Hòa
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thành Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 335/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 335/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đồng phạm trộm cắp xe
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger