TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 335/2025/LĐ-ST
Ngày: 30-6-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng lao
động vô hiệu.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hoa Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Kim Thu;
- Bà Lê Thị Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Mai Thị Năm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 16/2025/TLST-LĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng lao động vô hiệu”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 287/2025/QĐXXST-LÐ ngày 28 tháng 5 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa ngày 13/6/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng M, sinh năm 1990. Căn cước công dân: [...]. Nơi thường trú: khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Địa chỉ liên hệ: 49/1 khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn: Công ty TNHH S; Địa chỉ: khu phố A phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bảo hiểm xã hội thành phố T; địa chỉ: Đường N, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bà Lê Thị Hồng T, sinh năm 1996. Nơi thường trú: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Địa chỉ liên hệ: 49/1 khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bà Lê Thị Hồng D, sinh năm 1994; Nơi thường trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Địa chỉ liên lạc: Thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận.
Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:
Bà Lê Thị Hồng M ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH X, Công ty TNHH S1 và có tham gia bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm xã hội 7408335519 tại Bảo hiểm xã hội T, Bảo hiểm xã hội D.
Do không am hiểu về pháp luật nên trong khoảng thời gian từ tháng 6/2009 đến tháng 7/2009 bà M có cho Lê Thị Hồng D mượn giấy chứng minh nhân dân tên của bà M để giao kết hợp đồng lao động tại Công ty TNHH S may mặc Xuất khẩu từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 7 năm 2009 với mã số Bảo hiểm xã hội 7409028747. Ngoài ra cũng trong khoảng thời gian từ tháng 6/2009 đến tháng 3/2014 bà M có cho Lê Thị Hồng T mượn giấy chứng minh nhân dân tên của bà M để giao kết hợp đồng lao động tại Công ty TNHH S may mặc Xuất khẩu từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 3 năm 2014 với mã số Bảo hiểm xã hội 7409028764.
Hiện nay bà M đang tồn tại các mã số bảo hiểm xã hội, trùng thời gian đóng bảo hiểm xã hội nên không thực hiện được thủ tục hưởng chế độ bảo hiểm theo quy định.
Do đó bà M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: tuyên bố: Hợp đồng lao động giao kết giữa tên bà Lê Thị Hồng M (thực tế là bà Lê Thị Hồng D ký) với Công ty TNHH S từ tháng 6/2009 đến tháng 7/2009 là vô hiệu. Hợp đồng lao động giao kết giữa tên bà Lê Thị Hồng M (thực tế là bà Lê Thị Hồng T ký) với Công ty TNHH S từ tháng 6/2009 đến tháng 3/2014 là vô hiệu. Bà M không có yêu cầu Tòa án giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
- Bị đơn: Công ty TNHH S: Đã được tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng theo quy định nhưng vắng mặt không lý do, không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hồng T trình bày: Bà T có mượn giấy chứng minh của bà Lê Thị Hồng M để đi xin làm việc tại Công ty TNHH S và tham gia ký hợp đồng lao động, Công ty đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 6 năm 2009 đến 3 năm 2014 với tên Lê Thị Hồng M nhưng thực tế người làm việc là bà T. Nay trước yêu cầu khởi kiện của bà M, bà T thống nhất và không có yêu cầu gì đối với vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hồng D trình bày: Bà D có mượn giấy chứng minh của bà Lê Thị Hồng M để đi xin làm việc tại Công ty TNHH S và tham gia ký hợp đồng lao động, Công ty Đ từ tháng 6 năm 2009 đến 7 năm 2009 với tên Lê Thị Hồng M nhưng thực tế người làm việc là bà D. Nay trước yêu cầu khởi kiện của bà M, bà D thống nhất và không có yêu cầu gì đối với vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày: Trong quá trình tố tụng đã có công văn trả lời cho Tòa án về quá trình đóng bảo hiểm của người tên Lê Thị Hồng M, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật, đề nghị giải quyết vắng mặt bảo hiểm.
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do dù được triệu tập hợp lệ; các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác.
2
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng.
Về nội dung: Căn cứ các điều 15, 16, 49, 50 và 51 Bộ luật Lao động năm 2019 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến của đại diện viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Bà Lê Thị Hồng M khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Lê Thị Hồng M (do bà Lê Thị Hồng D là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH S trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 7 năm 2009 là vô hiệu và hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Lê Thị Hồng M (do bà Lê Thị Hồng T là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH S trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 3 năm 2014 là vô hiệu. Đây là “Tranh chấp về hợp đồng lao động” được quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơnnhững người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn được triệu tập, niêm yết hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Các đương sự không cung cấp Hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH S Xuất khẩu với tên người lao động Lê Thị Hồng M. Tuy nhiên, qua xác minh, các tài liệu thu thập thể hiện có việc Công ty nộp bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian nêu trên. Do đó, có căn cứ xác định có việc giao kết hợp đồng như trình bày của các đương sự.
[2.2] Xét thấy, bà Lê Thị Hồng M cho bà Lê Thị Hồng T, Lê Thị Hồng D mượn giấy tờ cá nhân để xác lập hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 7 năm 2009 và từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 3 năm 2014 tại Công ty TNHH S may mặc Xuất khẩu theo mã số Bảo hiểm xã hội 7409028747 và 7409028764. Trong khoảng thời gian trên, bà Lê Thị Hồng M giao kết hợp đồng lao động tại Công ty TNHH X và công ty TNHH S1 và tham gia bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm xã hội 7408335519 tại Bảo hiểm xã hội T.
Thực tế cá nhân trực tiếp lao động và ký kết hợp đồng tại Công ty TNHH S may mặc Xuất khẩu từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 7 năm 2009 (là bà D) và từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 3 năm 2014 (là bà T). Việc bà T, bà D mượn hồ sơ cá nhân của bà M để làm việc tại Công ty TNHH S may mặc Xuất khẩu là không đúng quy định của pháp luật, căn cứ điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động
3
2019 đây là hợp đồng lao động vô hiệu, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.3] Bà Lê Thị Hồng T, Lê Thị Hồng D không tranh chấp, không yêu cầu gì về giải quyết hậu quản hợp đồng vô hiệu; bị đơn Công ty TNHH S đã được tống đạt niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, các yêu cầu của nguyên đơn nhưng bị đơn không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí lao động sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 17, 19, 50, 51 và Điều 52 Bộ luật Lao động năm 2012 (nay là các Điều 15, 16, 19, 49, 50 và Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019);
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Hồng M về việc Tranh chấp về hợp đồng lao động vô hiệu với bị đơn Công ty TNHH S.
- - Tuyên Hợp đồng lao động giao kết giữa tên người lao động Lê Thị Hồng M và Công ty TNHH S trong thời gian từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 7 năm 2009 là vô hiệu.
- - Tuyên Hợp đồng lao động giao kết giữa tên người lao động Lê Thị Hồng M và Công ty TNHH S trong thời gian từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 3 năm 2014 là vô hiệu.
- - Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết các chế độ Bảo hiểm xã hội theo quy định pháp luật.
- Về án phí: Bà Lê Thị Hồng M tự nguyện chịu 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) án phí lao động sơ thẩm được trừ vào số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000601 ngày 07 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoa Hạnh |
5
Bản án số 335/2025/LĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng lao động vô hiệu
- Số bản án: 335/2025/LĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng lao động vô hiệu
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà My khoi kien tranh chap hop dong lao dong vo hieu
