TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 335/2025/HS-PT Ngày: 16/04/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Trương Thành Trung |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Ngọc Huân |
| Bà Trần Thị Lê Na |
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Phương Anh, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 04 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 262/2025/TLPT-HS ngày 13 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo Phạm Thanh S do có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 288/2024/HSST ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Bị cáo kháng cáo: Phạm Thanh S;
| sinh năm: 1991; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; | |
| HKTT: Đường B, thị trấn Y, huyện G, thành phố Hà Nội; | |
| Nơi ở: Số H T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh; | |
| Nghề nghiệp: Lao động tự do; | Quốc tịch: Việt Nam; |
| Dân tộc: Kinh; | Tôn giáo: Không; |
| Văn hóa: 12/12; | Họ tên bố: Phạm Văn T, sinh năm 1964; |
| Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1967. | |
Theo danh chỉ bản số 387 lập ngày 25/07/2024 của Công an quận L, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị hại: Công ty TNHH một thành viên T2 - chi nhánh H1;
Địa chỉ: Số B đường T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Diệp Trọng S1 – Chuyên viên pháp chế (Xin vắng mặt).
Người bào chữa cho bị cáo:
Luật sư ông Nguyễn Duy N, bà Nguyễn Thị Bích H, Công ty L, Đoàn luật sư thành phố H. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2 – chi nhánh H1 (gọi tắt là Công ty T2), có địa chỉ tại số B đường T, phường Y, Q. C, TP Hà Nội), là doanh nghiệp ngoài nhà nước, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực bưu chính và chuyển phát thương mại điện tử. Ngày 16/12/2023, Công ty T2 ký hợp đồng thử việc số 01366162-23/HĐTV với Phạm Thanh S thời hạn 02 tháng, từ ngày 16/12/2023 đến ngày 14/02/2024. Nội dung công việc của Phạm Thanh S là nhân viên giao hàng tại Bưu cục 024L09 tại địa chỉ: Số F L - tổ B - P. B - Q. L - TP .. Nhiệm vụ của S là giao những đơn hàng của người gửi đến người nhận và thu hộ tiền từ người nhận về nộp lại cho Công ty. Theo quy định cuối mỗi ca làm S phải quay về Bưu cục chốt ca làm, nộp lại số tiền đã thu hộ tương ứng với những đơn hàng đã giao thành công và hoàn lại kho những đơn hàng bị huỷ hoặc chưa giao thành công.
Ngày 27/12/2023, Phạm Thanh S được Công ty T2 giao nhiệm vụ đi giao 01 đơn hàng có mã vận đơn là 856507200071 cho khách hàng tên là Đào Thị Thu T1 (SN 1980; Địa chỉ: Tổ A - P. G - Q. L - TP .). Khoảng 10h cùng ngày, S giao hàng thành công đồng thời đã thu tiền của chị T1 bằng hình thức chị T1 chuyển khoản tiền vào tài khoản ngân hàng cá nhân của S mở tại ngân hàng V có số là 0378556779 với số tiền là: 19.909.000 VNĐ (Mười chín triệu chín trăm linh chín nghìn đồng). Khi đó, do bản thân S đang cần tiền chi tiêu vào mục đích cá nhân nên S đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trên. Do vậy, S không tích đơn hàng này trên ứng dụng là đã giao thành công hàng mà để treo trên ứng dụng là chưa giao thành công, mục đích để nhân viên giao dịch của Bưu cục tưởng là chưa giao hàng thành công và sẽ không phải nộp tiền về Công ty. Chiều ngày 27/12/2023, S trở về Bưu cục chốt ca nhưng không giao nộp số tiền đã thu của chị T1 cho nhân viên giao dịch của Bưu cục.
Cuối buổi chiều ngày 27/12/2023 khi chốt ca, nhân viên giao dịch Bưu cục kiểm kho phát hiện thiếu 01 đơn hàng có mã vận đơn là 856507200071 do Phạm Thanh S mang đi giao. Giao dịch viên Bưu cục đã gọi điện qua số điện thoại 0933.595.xxx cho khách hàng tên là T1, thì được khách hàng cho biết đã nhận được hàng từ nhân viên giao hàng và thanh toán số tiền 19.909.000 VNĐ bằng hình thức chuyển khoản cho nhân viên giao hàng. Ngày 28/12/2023, giao dịch viên Bưu cục yêu cầu S đến ký nhận và nộp số tiền thu từ khách nộp về Công ty nhưng S không đến và cho biết do đã sử dụng hết số tiền trên vào mục đích cá nhân nên chưa có tiền để nộp cho Công ty. Công ty đã nhiều lần yêu cầu Phạm Thanh S khắc phục số tiền 19.909.000 VNĐ mà S đã chiếm đoạt của Công ty, nhưng S không hoàn trả. Vì vậy, ngày 26/02/2024, Công ty T2 đã gửi đơn trình báo đến cơ quan công an tố giác hành vi chiếm đoạt tiền của Phạm Thanh S.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Thanh S đã khai nhận hành vi vi phạm như nội dung nêu trên.
Cơ quan điều tra đã tiến hành sao kê tài khoản ngân hàng V, STK: 0378556779 của S xác định tài khoản của S phát sinh nhận số tiền 19.909.000 VNĐ từ tài khoản đối ứng mang tên Đào Thị Thu T1.
Về phần dân sự: Tại cơ quan điều tra, Công ty T2 đề nghị bị cáo Phạm Thanh S phải hoàn trả cho công ty T2 số tiền là 19.909.000 đồng (Mười chín triệu chín trăm linh chín nghìn đồng). Ngày 30/12/2024, bị hại có đơn xác nhận bị cáo đã khắc phục hậu quả, hoàn trả bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt là 19.909.000 đồng và không có yêu cầu gì khác về dân sự. Bị hại có đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 288/2024/HSST ngày 21/01/2025 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh S phạm tội: “Tham ô tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thanh S 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra bản án còn tuyên về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 03/01/2025 bị cáo Nguyễn Thanh S2 có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ và hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội sau khi đánh giá tính chất mức độ hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 288/2024/HSST ngày 30/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Về án phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo, hành vi của bị cáo S2 không phạm tội Tham ô tài sản mà phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nên đề nghị Hội đồng xét xử chuyển tội danh đối với bị cáo và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
Lời nói sau cùng của bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hình thức kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về mặt chủ thể kháng cáo và trong thời hạn của luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo trình bày lời khai như đã trình bày tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Ngày 27/12/2023, Phạm Thanh S là nhân viên giao hàng của Công ty TNHH MTV T2 – chi nhánh H1, lợi dụng nhiệm vụ được giao là giao đơn hàng cho chị Đào Thị Thu T1, S đã giao hàng và nhận tiền hàng từ chị T1 nhưng không nộp lại công ty mà chiếm đoạt số tiền 19.909.000đ (Mười chín triệu chín trăm linh chín nghìn đồng) sử dụng vào mục đích cá nhân.
Với hành vi như trên, bị cáo Phạm Thanh S bị Tòa án nhân dân quận Long Biên tuyên bố phạm tội Tham ô tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Bị cáo là nhân viên của Công ty TNHH MTV T2. Bị cáo đã có hành vi lợi dụng việc mình có chức năng nhiệm vụ được đi giao hàng và nhận tiền hàng của các khách hàng đặt mua, để chiếm đoạt số tiền 19.909.000₫ của Công ty. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó cần thiết phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu, nhân thân tốt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Phạm Thanh S là nhân viên giao hàng của Công ty TNHH MTV T2 - chi nhánh H1 có nhiệm vụ giao đơn hàng cho chị Đào Thị Thu T1 và nhận tiền hàng từ chị T1 nhưng không nộp lại cho Công ty mà chiếm đoạt số tiền 19.909.000đ để chi tiêu cá nhân. Do đó, hành vi của bị cáo Phạm Thanh S đã phạm vào tội "Tham ô tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự. Quyết định của Tòa án nhân dân quận Long Biên xử phạt bị cáo về tội danh và hình phạt là có căn cứ và đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên Bản án số 288/2025/HSST ngày 13/3/2025 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội về tội danh và hình phạt.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo không chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Thanh S.
Giữ nguyên Bản án số 288/2025/HSST ngày 13/03/2025 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh S phạm tội: “Tham ô tài sản”
Căn cứ khoản 1 Điều 353, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Thanh S 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo Phạm Thanh S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trương Thành Trung |
Bản án số 335/2025/HS-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tham ô tài sản
- Số bản án: 335/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thanh S - Điều 353
