TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 335/2025/DSST Ngày: 23/05/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Vui
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Thạnh
- Ông Nguyễn Văn Tiên
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thiện Quang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Lường Thị Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 23/05/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 835/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 385/2025/QĐXXST-DS ngày 03/4/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 560/2025/QĐ-ST ngày 29/4/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N.
- Bị đơn: Ông Lê Khắc C (vắng mặt)
Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Trung L (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: A T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: C chung cư H, C T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N có ông Nguyễn Trung L là đại diện theo uỷ quyền trình bày:
Ngày 05/05/2022, ông Lê Khắc C và Ngân hàng TMCP N (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) có ký kết hợp đồng vay số 25BBSG22-CC, số tiền vay 5.400.000.000 đồng, thời hạn vay 240 tháng, mục đích vay là thanh toán tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Long An.
Đồng thời, Ngân hàng cũng phát hành 01 thẻ tín dụng JCB EMV GOLD J05000497125 cho ông Lê Khắc C, tổng hạn mức là 100.000.000 đồng.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay nêu trên là quyền sử dụng đất tại các thửa đất sau:
- Thửa đất số 512, tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ Phường G, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 493548, số vào sổ cấp GCN: CH 08221 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 13/11/2019 cho bà Nguyễn Thị Ngọc K (cập nhật sang tên ông Lê Khắc C ngày 09/5/2022).
- Thửa đất số 513, tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ Phường G, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 493547, số vào sổ cấp GCN: CH 08223 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 13/11/2019 cho ông Trần Quốc H (cập nhật sang tên ông Lê Khắc C ngày 09/5/2022).
- Thửa đất số 514, tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ Phường G, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 493546, số vào sổ cấp GCN: CH 08222 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 13/11/2019 cho ông Trần Quốc H1 (cập nhật sang tên ông Lê Khắc C ngày 09/5/2022).
Quá trình giải ngân:
Đối với hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC: Theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 06/05/2022 thì ông Lê Khắc C đã nhận nợ số tiền 5.400.000.000 đồng. Ông Lê Khắc C đã thanh toán được số tiền 292.731.868 đồng, còn dư nợ gốc là 5.107.268.132 đồng.
Về quá trình sử dụng thẻ tín dụng JCB EMV GOLD J05000497125, ông C đã sử dụng tổng dư nợ thẻ và lãi tính đến ngày 10/5/2024 là 126.006.782 đồng.
Khoản vay của ông Lê Khắc C phát sinh nợ quá hạn tại Ngân hàng kể từ tháng 07/2023. Từ ngày quá hạn đến nay, Ngân hàng đã nhiều lần tiếp xúc làm việc với ông Lê Khắc C để giải quyết nợ vay quá hạn nhưng ông Lê Khắc C cố tình né tránh và không có thái độ hợp tác. Ông Lê Khắc C đã vi phạm các hợp đồng tín dụng đã ký kết với Ngân hàng.
Do đó, Ngân hàng khởi kiện ra Toà án, yêu cầu Toà án tuyên buộc ông Lê Khắc C phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N:
- Toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh đối với khoản vay của Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC, tạm tính đến ngày 11/12/2024 là: 5.911.803.654 đồng (trong đó dư nợ gốc: 5.107.268.132 đồng; lãi trong hạn: 737.378.747 đồng; lãi quá hạn: 67.156.775 đồng).
- Toàn bộ dư nợ thẻ tín dụng JCB EMV GOLD J05000497125 là: 165.929.376 đồng.
- Trường hợp ông Lê Khắc C không thực hiện trả nợ đúng thời hạn quy định, đề nghị Toà án tuyên phát mại các tài sản thế chấp bảo đảm nợ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 15/TC/BSG22-CC ngày 10/05/2022 nêu trên để xử lý thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.
- Trường hợp số tiền phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N thì ông Lê Khắc C phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N cho đến khi hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ vay.
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với 03 thửa đất thế chấp là 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng thì nguyên đơn đồng ý tự nguyện chịu chi phí trên.
Nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân ông Lê Khắc C thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên, không yêu cầu ai liên đới thực hiện nghĩa vụ với ông Lê Khắc C.
Bị đơn ông Lê Khắc C đã được Toà án tống đạt Thông báo thụ lý cũng như triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và không có bản tự khai gửi cho Toà án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP N do ông Nguyễn Trung L là đại diện theo uỷ quyền có đơn xin xét xử vắng mặt và có bản tự khai vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xác định số tiền yêu cầu bị đơn ông Lê Khắc C phải thanh toán tính đến thời điểm xét xử ngày 23/5/2025 là: 6.362.700.633 đồng, bao gồm:
- Toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh đối với khoản vay của Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC, tạm tính đến ngày xét xử ngày 23/5/2025 là: 6.162.574.671 đồng (trong đó dư nợ gốc: 5.107.268.132 đồng; lãi trong hạn: 942.648.949 đồng; lãi quá hạn: 112.657.590 đồng).
- Toàn bộ dư nợ thẻ tín dụng JCB EMV GOLD J05000497125 là: 200.125.962 đồng (trong đó dư nợ gốc: 99.572.748 đồng, lãi quá hạn 100.303.215 đồng, phí 249.999 đồng).
- Trường hợp ông Lê Khắc C không thực hiện trả nợ đúng thời hạn quy định, đề nghị Toà án tuyên phát mại các tài sản thế chấp bảo đảm nợ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 15/TC/BSG22-CC ngày 10/05/2022 nêu trên để xử lý thu hồi nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N.
- Trường hợp số tiền phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N thì ông Lê Khắc C phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần N cho đến khi hoàn thành xong nghĩa vụ trả nợ vay.
Bị đơn ông Lê Khắc C đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến của mình. Vì vậy, Toà án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn ông Lê Khắc C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 239, 240, 241, 242, 247, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 255, 256, 257, 259, 260 và Điều 263 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tuy nhiên, có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Căn cứ Điều 91, khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N, buộc bị đơn ông Lê Khắc C thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền tính đến ngày 23/5/2025 là 6.362.700.633 đồng, bao gồm:
- Toàn bộ nợ gốc và nợ lãi phát sinh đối với khoản vay của Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC, tạm tính đến ngày xét xử ngày 23/5/2025 là: 6.162.574.671 đồng (trong đó dư nợ gốc: 5.107.268.132 đồng; lãi trong hạn: 942.648.949 đồng; lãi quá hạn: 112.657.590 đồng).
- Toàn bộ dư nợ thẻ tín dụng JCB EMV GOLD J05000497125 là: 200.125.962 đồng (trong đó dư nợ gốc: 99.572.748 đồng, lãi quá hạn 100.303.215 đồng, phí 249.999 đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/5/2024 của Ngân hàng TMCP N yêu cầu Toà án buộc ông Lê Khắc C phải trả ngay một lần cho Ngân hàng số tiền còn nợ phát sinh dựa trên hợp đồng Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Do đó, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Tại Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC ngày 05/5/2022 được ký kết và phát sinh tại Ngân hàng TMCP N – Chi nhánh B có địa chỉ A T, phường T, Quận A. Điều 7 của Hợp đồng thế chấp số 15/TC/BSG22-CC các bên có thoả thuận lựa chọn Toà án có thẩm quyền giải quyết là Toà án nơi đặt trụ sở của Chi nhánh Ngân hàng tại Quận A để giải quyết. Tại Công văn số 594/BSG ngày 10/5/2024 của Ngân hàng TMCP N lựa chọn Toà án nơi thực hiện hợp đồng và nơi đặt trụ sở của Chi nhánh Ngân hàng TMCP N tại Quận A để giải quyết vụ án. Do đó, thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Toà án nhân dân Quận 12 theo
quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm b, g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về việc áp dụng pháp luật
Do các bên phát sinh quan hệ hợp đồng vay và hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng vào ngày 05/05/2022, do đó, Toà án áp dụng các quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 để giải quyết tranh chấp giữa các bên.
[3] Về sự vắng mặt của các đương sự
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Trung L có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Lê Khắc C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[4] Về hợp đồng cho vay; hợp đồng thế chấp và giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng:
Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự và theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định:
Ngày 05/05/2022, ông Lê Khắc C có ký kết Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC với Ngân hàng TMCP N, vay số tiền 5.400.000.000 (Năm tỷ bốn trăm triệu) đồng, thời hạn vay là 240 tháng để thanh toán tiền mua nhà ở, đất ở.
Để thực hiện hợp đồng nêu trên, ngày 05/5/2022, Ngân hàng đã giải ngân cho vay cho ông Lê Khắc C theo Giấy nhận nợ số 01 kèm theo Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC ngày 05/5/2022 với số tiền vay 5.400.000.000 đồng; thời hạn vay 240 tháng; mục đích vay: Thanh toán tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 512-513-514, tờ bản đồ số 26, Phường G, thành phố T, tỉnh Long An; ngày giải ngân vốn vay là 06/5/2022, ngày đến hạn là 06/5/2042; lãi suất cho vay trong hạn là 7.3%/ năm và cố định trong thời gian áp dụng là 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên; Lãi suất cáp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả là 10%/năm trên số dư lãi chậm trả; ngày trả nợ vào ngày 05 hàng tháng, ngày trả gốc đầu tiên là ngày 05/6/2022, số tiền phải trả từ kỳ 1 đến 240 là 22.500.000 đồng/kỳ.
Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán của bên vay với bên cho vay, ngày 10/5/2022, ông Lê Khắc C và Ngân hàng TMCP N có ký Hợp đồng thế chấp số 15/TC/BSG22-CC được công chứng cùng ngày số 4.967, quyển số 05/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1, tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất thuộc các thửa đất số 512-513-514, tờ bản đồ số 26, Phường G, thành phố T, tỉnh Long An. Các tài sản thế chấp đều được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Long An ngày 10/5/2022 (xác nhận cơ quan đăng ký ngày 10/5/2022).
Đồng thời, ngày 06/9/2022, ông Lê Khắc C còn ký Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng đối với thẻ tín dụng JCB EMV GOLD J05000497125, với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng.
Như vậy, Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC ngày 05/5/2022 (Giấy nhận nợ số 01 kèm theo Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC ngày 05/5/2022); Hợp đồng thế chấp số 15/TC/BSG22-CC ngày 10/5/2022; Giấy đề nghị phát hành thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đối với thẻ tín dụng JCB EMV GOLD J05000497125 đều do người có đủ thẩm quyền đại diện cho bên cho vay và người có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự của bên vay tự nguyện ký kết, không bị ép buộc, mục đích và nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hợp đồng đã được công chứng, chứng thực theo đúng quy định của pháp luật; tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm, các hợp đồng nêu trên đều có chủ thể, mục đích, nội dung và hình thức phù hợp quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự năm 2015. Do vậy hợp đồng cho vay, hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đều có hiệu lực và là cơ sở pháp lý để làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
[5] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
[5.1] Về yêu cầu trả tiền gốc, lãi trong hạn và lãi quá hạn đối với hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC ngày 05/5/2022
Về yêu cầu trả tiền gốc, lãi trong hạn:
Thực hiện hợp đồng cho vay, ngày 05/5/2022, Ngân hàng đã giải ngân cho vay cho ông Lê Khắc C theo Giấy nhận nợ số 01 kèm theo Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC ngày 05/5/2022 với số tiền vay 5.400.000.000 đồng.
Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP N số tiền nợ gốc 292.731.868 đồng của Hợp đồng vay số 25BBSG22-CC, lần cuối thanh toán là tháng 06/2023. Như vậy, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ kỳ tháng 7/2023 cho đến nay. Do bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP N thu hồi nợ trước hạn và khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền nợ gốc là 5.107.268.132 đồng là phù hợp theo quy định tại khoản 13.1.1, khoản 13.2 và khoản 13.3.2 Điều 13 của Hợp đồng nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ngày 05/5/2022, bị đơn ông Lê Khắc C đã ký Giấy nhận nợ số 01 kèm theo Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC với số tiền vay là 5.400.000.000 đồng, trả nợ gốc trong 240 kỳ (mỗi kỳ là 01 tháng). Tại khoản 9.2. Điều 9 của Hợp đồng vay có quy định về việc trả lãi tiền vay, trong đó mục 9.2.1 Có quy định về trả lãi trên dư nợ gốc trong hạn. Tại khoản 6.1 Điều 6 quy định về lãi suất cho vay trong hạn là 7,3%/năm và cố định trong 12 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên. Sau đó sẽ được điều chỉnh với biên độ (+)3,5%/năm, điều chỉnh 03 tháng/lần. Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Khắc C chỉ thanh toán được số tiền gốc là 292.731.868 đồng, chưa thanh toán tiền lãi. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền nợ lãi trong hạn tính đến thời điểm xét xử ngày 23/5/2025 là 942.648.949 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Về yêu cầu trả tiền lãi quá hạn:
Bị đơn ông Lê Khắc C không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ theo cam kết trong hợp đồng và làm phát sinh nợ quá hạn. Tại khoản 6.2 Điều 6 và khoản 13.2 Điều 13 của Hợp đồng cho vay thì lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn là phù hợp quy định pháp luật tại điểm b khoản 4 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và điểm c khoản 4 Điều 13 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016. Quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP N số tiền gốc là 292.731.868 đồng và chưa thanh toán khoản lãi phát sinh nào, lần cuối thanh toán là tháng 06/2023, tính đến ngày 23/5/2025 số tiền lãi quá hạn phát sinh theo hợp đồng cho vay hạn mức đã ký thì bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn là 112.657.590 đồng. Do vậy, Ngân hàng TMCP N khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền lãi quá hạn nêu trên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bị đơn ông Lê Khắc C vắng mặc dù đã được triệu tập hợp lệ và không có ý kiến gì đối với bất kỳ yêu cầu nào của Ngân hàng TMCP N.
Như vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/5/2025 ) là 6.162.574.671 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 5.107.268.132 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 942.648.949 đồng và lãi quá hạn là 112.657.590 đồng.
[5.2] Về yêu cầu trả tiền gốc và lãi quá hạn đối với thẻ tín dụng JCB EMV GOLD J05000497125
Ngày 06/09/2022, ông Lê Khắc C có ký với Ngân hàng TMCP N hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông C, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng số thẻ JCB EMV GOLD J05000497125, ông C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 99.572.748 đồng, nhưng không thanh toán bất kỳ khoản tiền gốc, lãi nào. Dựa trên bảng chiết tính các khoản nợ của Ngân hàng TMCP N cung cấp cho Toà án thì tính đến ngày 23/5/2025, ông Lê Khắc C còn nợ Ngân hàng TMCP N các khoản sau:
- Dư nợ gốc: 99.572.748 đồng
- Lãi quá hạn: 100.303.215 đồng
- Phí: 249.999 đồng
Tổng cộng: 200.125.962 đồng.
Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và các mục 18, 19, 20, 21, 22, 23 và Giấy đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng của Ngân hàng TMCP N thì ông Lê Khắc C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận, nên yêu cầu khởi kiện
của Ngân hàng buộc ông C phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến thời điểm xét xử ngày 23/5/2025 là 200.125.962 đồng (bao gồm dư nợ gốc: 99.572.748 đồng và lãi quá hạn: 100.303.215 đồng, phí 249.999 đồng) và buộc ông Lê Khắc C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 24/05/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định trong hợp đồng là có cơ sở chấp nhận.
[5.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm
Tài sản đảm bảo cho khoản vay của ông Lê Khắc C tại Ngân hàng TMCP N theo Hợp đồng thế chấp số 15/TC/BSG22-CC ngày 10/5/2022, được công chứng cùng ngày số 4.967, quyển số 05/2022TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng C1, tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất thuộc các thửa đất sau:
- Thửa đất số 512, tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ Phường G, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 493548, số vào sổ cấp GCN: CH 08221 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 13/11/2019 cho bà Nguyễn Thị Ngọc K (cập nhật sang tên ông Lê Khắc C ngày 09/5/2022).
- Thửa đất số 513, tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ Phường G, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 493547, số vào sổ cấp GCN: CH 08223 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 13/11/2019 cho ông Trần Quốc H (cập nhật sang tên ông Lê Khắc C ngày 09/5/2022).
- Thửa đất số 514, tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ Phường G, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 493546, số vào sổ cấp GCN: CH 08222 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 13/11/2019 cho ông Trần Quốc H1 (cập nhật sang tên ông Lê Khắc C ngày 09/5/2022).
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện trạng các thửa đất trên là đất trống, không có sự thay đổi so với giấy chứng nhận.
Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Long An theo đúng quy định của pháp luật.
Tại điểm a khoản 1 Điều 4 của Hợp đồng thế chấp tài sản các bên đã thỏa thuận việc xử lý tài sản để thu hồi nợ trong trường hợp: “Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm khi xảy ra ít nhất một sự kiện vi phạm và/ hoặc theo quy định pháp luật và/hoặc quy định tại hợp đồng”. Do đó, khi bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đối với Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm là có căn cứ và phù hợp với các Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322 và Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 56 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nói trên được dùng để thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của bị đơn theo số 25BBSG22-CC ngày 05/5/2022 (Giấy nhận nợ số 01 kèm theo Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC ngày 05/5/2022), Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng JCB EMV GOLD J05000497125 nếu thừa sẽ được trả lại cho ông Lê Khắc C; nếu còn thiếu thì bị đơn ông Lê Khắc C phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP N cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ.
[6] Về chi phí tố tụng:
Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 15.000.000 (Mười lăm triệu) đồng, nguyên đơn tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần N được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn ông Lê Khắc C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 227, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 117, 119, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 357, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 và Điều 98 Luật các Tổ chức Tín dụng năm 2010 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Căn cứ các Điều 4, 10 và 56 của Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 về giao dịch bảo đảm;
Căn cứ Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm;
Căn cứ điểm b, c khoản 4 Điều 13 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N
- Buộc bị đơn là ông Lê Khắc C phải trả cho Ngân hàng TMCP N tổng số tiền nợ gốc và lãi của hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC ngày 05/5/2022 tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/05/2025) là 6.162.574.671 (Sáu tỷ một trăm sáu mươi hai triệu năm trăm bảy mươi bốn ngàn sáu trăm bảy mươi mốt) đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 5.107.268.132 đồng, lãi trong hạn là 942.648.949 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là 112.657.590 đồng.
- Buộc bị đơn là ông Lê Khắc C phải trả cho Ngân hàng TMCP N tổng số tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng JCB EMV GOLD J05000497125 tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 23/05/2025) là 200.125.962 (Hai trăm triệu một trăm hai mươi lăm ngàn chín trăm sáu mươi hai) đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 99.572.748 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là 100.303.215 đồng và phí là 249.999 đồng.
Tổng cộng số tiền mà bị đơn ông Lê Khắc C phải phải trả cho Ngân hàng TMCP N là 6.362.700.633 đồng (Sáu tỷ ba trăm sáu mươi hai triệu bảy trăm ngàn sáu trăm ba mươi ba đồng).
Thanh toán ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Lê Khắc C còn phải trả tiền lãi phát sinh của số tiền nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận tại Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC ngày 05/5/2022 (Giấy nhận nợ số 01 kèm theo Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC ngày 05/5/2022) và Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng ngày 06/9/2022 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
Trường hợp ông Lê Khắc C thanh toán xong toàn bộ khoản nợ thì Ngân hàng TMCP N có trách nhiệm trả lại cho ông Lê Khắc C các Giấy chứng nhận sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 493548, số vào sổ cấp GCN: CH 08221 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 13/11/2019 cho bà Nguyễn Thị Ngọc K (cập nhật sang tên ông Lê Khắc C ngày 09/5/2022); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 493547, số vào sổ cấp GCN: CH 08223 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 13/11/2019 cho ông Trần Quốc H (cập nhật sang tên ông Lê Khắc C ngày 09/5/2022); Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 493546, số vào sổ cấp GCN: CH 08222 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 13/11/2019 cho ông Trần Quốc H1 (cập nhật sang tên ông Lê Khắc C ngày 09/5/2022).
Trường hợp ông Lê Khắc C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP N có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp số 15/TC/BSG22-CC ngày 10/5/2022 là quyền sử dụng đất thuộc các thửa đất sau:
- Thửa đất số 512, tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ Phường G, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 493548, số vào sổ cấp GCN: CH 08221 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 13/11/2019 cho bà Nguyễn Thị Ngọc K (cập nhật sang tên ông Lê Khắc C ngày 09/5/2022).
- Thửa đất số 513, tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ Phường G, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 493547, số vào sổ cấp GCN: CH 08223 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 13/11/2019 cho ông Trần Quốc H (cập nhật sang tên ông Lê Khắc C ngày 09/5/2022).
- Thửa đất số 514, tờ bản đồ số 26 tại địa chỉ Phường G, thành phố T, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 493546, số vào sổ cấp GCN: CH 08222 do Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An cấp ngày 13/11/2019 cho ông Trần Quốc H1 (cập nhật sang tên ông Lê Khắc C ngày 09/5/2022).
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm nói trên được dùng để thanh toán cho toàn bộ nghĩa vụ trả nợ của ông Lê Khắc C theo Hợp đồng cho vay số 25BBSG22-CC ngày 05/5/2022; Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng đối với thẻ tín dụng JCB EMV GOLD J05000497125, nếu thừa sẽ được trả lại cho ông Lê Khắc C; nếu còn thiếu thì ông Lê Khắc C phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP N cho đến khi tất toán toàn bộ khoản nợ.
2. Về án phí:
- Ông Lê Khắc C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 114.362.701 đồng (Một trăm mười bốn triệu ba trăm sáu mươi hai ngàn bảy trăm lẻ một) đồng.
- Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 56.799.403 (Năm mươi sáu triệu bảy trăm chín mươi chín ngàn bốn trăm lẻ ba) đồng theo biên lai thu số 0040962 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Các đương sự thi hành án tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Vui |
Bản án số 335/2025/DSST ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 335/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp HĐ tín dụng
