|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 335/2023/HNGĐ-ST Ngày 16 - 11 - 2023 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Phấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mai Khanh
Ông Trần Xuân Thành
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 292/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2023 về Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Pan Zheng T, sinh ngày 23/3/1997; Địa chỉ: Số F, đường V, cụm A thôn V, xã V, huyện B, Đài Loan (Trung Quốc). Đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Ngọc T1, sinh ngày 05/6/1997; Địa chỉ: Ngõ H, nhà A, đường N, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Đề nghị vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 05/7/2023, anh Pan Zheng T trình bày: Anh và chị Lê Thị Ngọc T1 tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau ngày 02/3/2023 tại Ủy ban nhân dân thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi đăng ký kết hôn, anh Pan Z Ting trở về Đài Loan làm việc, chị T1 ở lại Việt Nam, mỗi người sống một nơi, không đồng nhất quan điểm dẫn đến mâu thuẫn theo thời gian và hai người không quan tâm đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay nhận thấy, tình cảm vợ chồng không có nên anh P Zheng Ting yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn chị Lê Thị Ngọc T1 để giải phóng cho nhau.
- Về con chung: Anh Pan Zheng T và chị Lê Thị Ngọc T1 không có con chung, nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản: Vợ chồng không có tài sản chung; Vợ chồng không nợ ai cũng không có ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Anh Pan Zheng T hiện đang ở nước ngoài, sau khi gửi đơn khởi kiện và trình bày quan điểm nhưng vì điều kiện không thể sang Việt Nam trực tiếp tham gia giải quyết vụ án được nên anh P Zheng Ting đề nghị Toà án giải quyết, xử vắng mặt; ủy quyền cho chị Lê Thị Ngọc T1 giao, nộp các thủ tục và nhận các loại văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Pan Zheng T.
Tại Bản tự khai ngày 31 tháng 10 năm 2023, chị Lê Thị Ngọc T1 trình bày: Chị Lê Thị Ngọc T1 thừa nhận, điều kiện, thời gian đăng ký kết hôn, mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng đúng như anh Pan Zheng T trình bày. Nay anh P Zheng Ting yêu cầu ly hôn, chị Lê Thị Ngọc T1 đồng ý, chấp nhận.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.
- Tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Pan Zheng T hiện đang ở nước ngoài, sau khi gửi đơn khởi kiện; trình bày quan điểm nhưng vì điều kiện không thể sang Việt Nam để trực tiếp tham gia hòa giải, giải quyết vụ án được và anh P Zheng Ting đề nghị Toà án giải quyết và xử vắng mặt (Đơn xin ly hôn; Giấy ủy quyền và đơn đề nghị vắng mặt của anh anh P Zheng Ting đều có xác nhận của Văn phòng Kinh tế - Văn hóa Việt Nam tại Đ). Ngày 31 tháng 10 năm 2023, chị Lê Thị Ngọc T1 cũng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 điều 207; khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc trường hợp không hoà giải được, Toà án tiến hành giải quyết, xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa, mặc dù anh Pan Z Ting vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện, yêu cầu được ly hôn chị Lê Thị Ngọc T1. Xét thấy, anh Pan Zheng T và chị Lê Thị Ngọc T1 đăng ký kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định. Sau khi đăng ký kết hôn, anh Pan Z Ting trở về Đài Loan làm việc, chị T1 ở lại Việt Nam, mỗi người sống một nơi, không đồng nhất quan điểm dẫn đến mâu thuẫn theo thời gian và hai người không quan tâm đến nhau kể cả vật chất lẫn tinh thần. Nay cả chị Lê Thị Ngọc T1 và anh Pan Zheng T đều xác định, tình cảm vợ chồng không có và hai người thống nhất ly hôn nên cần căn cứ khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho ly hôn để giải phóng cho nhau.
[2.2] Về con chung: Chị Lê Thị Ngọc T1 và anh P Zheng Ting đều xác định, hai người không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Chị Lê Thị Ngọc T1 và anh Pan Zheng T đều xác định, vợ chồng không có tài sản chung; Không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
[3] Về án phí: Anh Pan Zheng T phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 53, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 207; Khoản 1 điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quân hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Pan Zheng T và chị Lê Thị Ngọc T1.
- Về con chung: Anh Pan Zheng T và chị Lê Thị Ngọc T1 đều xác định, hai người không có con chung, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
- Về tài sản chung: Anh Pan Z và chị Lê Thị Ngọc T1 đều xác định, vợ chồng không có tài sản chung; không nợ ai và không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.
- Về án phí: Anh Pan Zheng T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0004470 ngày 13/10/2023 (Lê Thị Ngọc T1 nộp thay).
- Về quyền kháng cáo:
- 5.1. Chị Lê Thị Ngọc T1 vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.
- 5.2. Anh Pan Zheng Ting C đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội – Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được hoặc được tống đạt hợp lệ bản sao bản án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Phấn |
Bản án số 335/2023/HNGĐ-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 335/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình
