|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 335/2022/DS-PT
Ngày: 22-11-2022
V/v tranh chấp thừa kế, yêu cầu
vô hiệu văn bản công chứng,
tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Kim Nga
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Hồng Vân
Ông Lê Minh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Hồng Thuý – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An: Bà Trần Thị Thuỳ Dung- Kiểm sát viên
Trong các ngày 15 và 22 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 331/2022/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp thừa kế, yêu cầu vô hiệu văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2022/DS-ST ngày 20 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 330/2022/QĐ-PT ngày 24 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
-
Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1961;
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm: 1972; địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
(Được uỷ quyền theo văn bản uỷ quyền ngày 10/11/2022).
-
Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1965;
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
-
Bà Nguyễn Ngọc G, sinh năm 1967;
Địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1970;
Địa chỉ: Ấp K, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
-
Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1972;
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
-
Bà Nguyễn Ngọc D1, sinh năm 1977;
Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
-
Bà Trần Thị Thanh T, sinh năm 1977;
-
Anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 2001;
-
Chị Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 2003;
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Ngọc D1, bà Trần Thị Thanh T, Nguyễn Trọng T, Nguyễn Thị Kim T: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1972;
Cùng địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
(Được uỷ quyền theo văn bản uỷ quyền ngày 10/11/2022).
-
Bà Nguyễn Thị Ngọc X, sinh năm 1962;
Địa chỉ: Ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
-
Bà Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1975;
Địa chỉ: Ấp V, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
-
Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Ấp R, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Ngọc T1: Ông Trần Xuân D, sinh năm: 1994; địa chỉ: Ấp Chợ Trạm, xã M, huyện C, Long An.
(Được uỷ quyền theo văn bản uỷ quyền ngày 10/11/2022).
-
Bà Võ Thị C, sinh năm 1985;
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
-
Bà Phạm Thị Thanh T2, sinh năm 1982;
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
-
Ông Văn Minh T1, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An.
-
Văn Phòng Công chứng C.
Địa chỉ: Đường N, khu phố X, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Kim H, Trưởng Văn phòng.
-
Văn phòng Công chứng L.
Địa chỉ: Khu dân cư N, Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Dương Thùy L, Trưởng Văn phòng.
-
Văn phòng Công chứng H (Hiện nay là Văn phòng Công chứng Lê Hồng Bảo T).
Địa chỉ: Quốc Lộ K, Khu phố H Trung tâm thương mại K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Hồng Bảo T, Trưởng Văn phòng.
-
Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Văn Quang H, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện.
Người đại diện theo ủy quyền của Uỷ ban: Ông Đào Hữu T, Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện.
(Được uỷ quyền theo văn bản ủy quyền ngày 16/12/2021).
-
Ủy ban nhân dân huyện C1, tỉnh Long An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Anh Đ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện.
Người đại diện theo ủy quyền của Uỷ ban: Ông Nguyễn Hoài T, Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C1.
(Được uỷ quyền theo văn bản ủy quyền ngày 21/12/2021).
-
Ngân hàng T.
Địa chỉ trụ sở chính: Đường H, phường L, Quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng: Ông Nguyễn Hưng T, sinh năm 1980, Giám đốc Ngân hàng T, Chi nhánh Long An, Phòng giao dịch T.
(Được uỷ quyền theo Quyết định uỷ quyền số 963/QĐ-BIDV ngày 25/10/2021 và văn bản ủy quyền ngày 17/01/2022).
- Người kháng cáo:
-
Người đại diện hợp pháp của bị đơn ông Huỳnh Văn T2.
-
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thanh T2, ông Văn Minh T1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 20/02/2019, ngày 13/3/2019, ngày 29/5/2019, các ngày 12/6/2019, 20/4/2021, 22/12/2021 và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng tại Toà án cấp sơ thẩm, các nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Ngọc G, bà Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:
Cha mẹ các ông bà là cụ Nguyễn Văn C, sinh năm 1940 (chết năm 2012) mẹ là cụ Trần Thị A, sinh năm 1937 (chết năm 2005), có 10 người con gồm: Ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Thị Ngọc D, bà Nguyễn Ngọc G, bà Nguyễn Thị Ngọc X, ông Nguyễn Ngọc S, ông Nguyễn Ngọc Q, bà Nguyễn Ngọc Đ, bà Nguyễn Ngọc D1, ông Nguyễn Ngọc N, bà Nguyễn Thị Ngọc T1 và một người con là bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1960 (đã chết khi còn nhỏ vào năm 1961), cha mẹ cụ C và cụ A đã chết trước. Khi còn sống cụ C và cụ A có tạo lập được khối tài sản gồm:
Các thửa đất số 3403, 3404, 3405 cùng tờ bản đồ số 3, diện tích 4.809m², loại đất trồng lúa nước, đất ở nông thôn, đất trồng cây hàng năm khác tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An; thửa đất số 3411, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.421m², loại đất lúa, tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An và thửa đất số 86 (PCL) diện tích 141,2m² loại đất ở nông thôn, thửa đất số 87, diện tích 32m² loại đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt cùng tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã L, huyện C1, tỉnh Long An. Cụ C và cụ A trước khi chết không để lại di chúc. Năm 2015, ông N lừa dối các đồng thừa kế là ông Nguyễn Ngọc Q, bà Nguyễn Thị Ngọc X, bà Nguyễn Ngọc Đ, bà Nguyễn Thị Ngọc T1 ra ký văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế ngày 28/7/2015 và ngày 30/7/2015 để giao toàn bộ tài sản cho ông N. Các ông bà không biết việc ông N lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế vì các ông, bà không có ký vào văn bản thỏa thuận này. Sau đó ông N đã chuyển nhượng thửa đất số 3411 và một phần thửa 3403 cho bà Phạm Thị Thanh T2 và ông Văn Minh T1.
Các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
-
Tuyên vô hiệu văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế lập ngày 28/7/2015 tại Văn phòng Công chứng C số công chứng 1105, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD, đối với các thửa đất số 3403, 3404, 3405 cùng tờ bản đồ số 3, diện tích 4.809m², loại đất trồng lúa nước, đất ở nông thôn, đất trồng cây hàng năm khác tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 208253, số vào số 01007QSDĐ/0406-LA do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/10/1996 cho ông Nguyễn Văn C đứng tên; thửa đất số 3411, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.421m², loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q219295, số vào sổ 02117QSDĐ/0406-LA, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 25/01/2000 cho ông Nguyễn Văn C đứng tên.
-
Tuyên vô hiệu văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế lập ngày 30/7/2015, tại Văn phòng công chứng C số công chứng 1117, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 86 (PCL) diện tích 141,2m², loại đất ở nông thôn và thửa đất số 87, diện tích 32m² loại đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt cùng tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã L, huyện C1, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK108751 vào sổ số H0321 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 108752 số vào sổ 0326 do Ủy ban nhân dân huyện C1 cấp cùng ngày 13/9/2007 cho ông Nguyễn Văn C đứng tên.
-
Tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc N với bà Phạm Thị Thanh T2 đối với thửa đất số 3411, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.421m² loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An được Văn phòng Công chứng H công chứng số 4770, quyển số 03/TP-CC-SCC/HĐGD ngày 21/12/2018.
-
Tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc N với bà Phạm Thị Thanh T2 đối với thửa đất số 7298 (tách từ thửa 3403), tờ bản đồ số 3, diện tích 1.400m² loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An được Văn phòng Công chứng L công chứng số 7119, quyển số 08TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/7/2019.
-
Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 994822 đối với thửa đất số 3403, diện tích 2.994m², loại đất trồng lúa nước; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 994823 đối với thửa đất số 3404, diện tích 397m², loại đất ở nông thôn; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 994821 đối với thửa 3405, diện tích 1.418m², loại đất trồng cây hàng năm; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY 994824 đối với thửa đất số 3411, diện tích 1.421m² cùng thuộc tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cùng ngày 13/8/2015 cho ông Nguyễn Ngọc N đứng tên.
-
Hủy giấy các chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 108751 do Ủy ban nhân dân huyện C1 cấp ngày 13/9/2007, số vào sổ cấp giấy: H 0321 và được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C1 cập nhật ngày 10/12/2008 và ngày 05/8/2015 đối với thửa 86 (PCL) diện tích 184m², loại đất ở nông thôn; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 108752 do Ủy ban nhân dân huyện C1 cấp ngày 13/9/2007, số vào sổ cấp giấy: H 0326 và được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C1 cập nhật ngày 01/07/2013 và ngày 05/8/2015 đối với thửa đất số 87, diện tích 32m², loại đất nuôi trồng thủy sản thuộc tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã L, huyện C1, tỉnh Long An.
-
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 855739, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 06138 đối với thửa đất số 3411, tờ bản đồ số 03, diện tích 1.421m² do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An cấp ngày 16/01/2019 cho bà Phạm Thị Thanh T2.
-
Chia di sản thừa kế theo pháp luật của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị A để lại như sau: Ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Ngọc G, bà Nguyễn Thị Ngọc D yêu cầu được nhận bằng quyền sử dụng đất nhận một phần thửa 3403 là khu C1 diện tích 1301,6m²; nhận một phần thửa 3405 (phần đất có chiều dài cạnh dưới 13,4m giáp với khu A đo thẳng về phía đường Nguyễn Văn C1 và một phần cạnh dưới dài 9,8m giáp với khu A đo thẳng về phía đường Nguyễn Văn C1. Đối với phần diện tích đất được nhận thì bà D và bà G đồng ý nhường lại kỷ phần giao cho ông T được đứng tên quyền sử dụng đất các bà không yêu cầu ông T hoàn lại cho các bà giá trị quyền sử dụng đất; đối với các thửa đất còn lại thì bà D, bà G và ông T yêu cầu được nhận kỷ phân bằng giá trị quyền sử dụng đất nên chênh lệch thì yêu cầu ông N trả lại phần giá trị quyền sử dụng đất chênh lệch theo quy định của pháp luật. Các tài sản trên đất thì các ông bà không yêu cầu chia thừa kế. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N và bà T2 ngày 21/12/2008 đối với thửa đất số 3411 thì các ông, bà rút yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng do các ông bà chỉ yêu cầu nhận kỷ phần bằng giá trị quyền sử dụng đất. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 3411, 3404, 86, 87 thì bà G, ông T, bà D không yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy chỉnh lý biến động do các ông bà yêu cầu nhận kỷ phân bằng giá trị quyền sử dụng đất. Đối với thửa đất 3405 và 3403 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N nếu chia thừa kế được mà không phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các ông bà cũng đồng ý để ông T và ông Q đi kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bị đơn ông Nguyễn Ngọc N do ông Huỳnh Văn T2 đại diện trình bày:
Bị đơn thống nhất với trình bày của các nguyên đơn về quan hệ nhân thân cũng như về hàng thừa kế của cụ C và cụ A. Cụ Nguyễn Văn C, sinh năm 1940 (chết năm 2012) và cụ Trần Thị A, sinh năm 1937 (chết năm 2005). Di sản của cụ C và cụ A để lại gồm thửa đất số 3403, diện tích 2.994m²; thửa 3411, diện tích 1.421m² cùng loại đất lúa; thửa đất số 3404, diện tích 397m², loại đất ở nông thôn; thửa đất số 3405, diện tích 1.418m² loại đất vườn cùng tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An; thửa đất số 86, diện tích 141,2m² và thửa đất số 87, diện tích 32m² cùng tọa lạc tại ấp X, xã L, huyện C1, tỉnh Long An. Năm 2006 cụ C có lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng để lại di sản cho ông N và ông Q, trong đó ông Q được hưởng 1.500m² còn toàn bộ tài sản giao lại cho ông N. Vào ngày 28/7/2015 và ngày 30/7/2015 thì ông N, bà X, bà Đ, bà T2 và ông Q có lập văn bản thỏa thuận chia tài sản thừa kế tại Văn phòng Công chứng C với nội dung giao toàn bộ tài sản thừa kế trên cho ông N. Các đồng thừa kế còn lại gồm ông S, ông T, bà G, bà D, bà D1 thì ông N có thông báo đến để ký văn bản phân chia di sản thừa kế nhưng không đến. Sau khi lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thì ông đã làm thủ tục được đứng tên toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất trên. Ngày 21/12/2018, ông N đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 3411, diện tích 1.421m² cho bà Phạm Thị Thanh T2 với giá 580.000.000đồng, ông N đã nhận đủ tiền vào giao đất cho bà T2 quản lý, sử dụng, hiện nay bà T2 cũng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đồng thời, ông cũng đã chuyển nhượng cho bà T2 một phần thửa đất số 3403 (tách thành thửa 7289) diện tích 1.400m² với giá 980.000.000đồng, ông N cũng đã nhận đủ tiền và giao đất cho bà T2 quản lý sử dụng. Tuy nhiên, do phải tách thửa nên đến ngày 22/7/2019 thì ông N và bà T2 mới ký hợp đồng tại phòng công chứng nhưng không làm thủ tục sang tên được do các nguyên đơn làm đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Ông N vẫn đồng ý tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng. Trường hợp Tòa án tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông N không đồng ý bồi thường do việc không S tên được cho bà T2 không phải lỗi của ông N. Tại phiên tòa ông T2 trình bày, cụ C có để lại di chúc năm 2006 nên ông N yêu cầu được nhận ½ di sản thừa kế và ông Q được nhận 750m² đất lúa theo di chúc còn lại phần ½ di sản đề nghị chia theo pháp luật, nhưng ông N không nộp đơn khởi kiện mà chỉ trình bày để Tòa án xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày gồm:
-
Trong đơn khởi kiện ngày 24/02/2020, ngày 17/4/2021 và các lời khai trong quá trình tố tụng, ông Nguyễn Ngọc Q trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của các nguyên đơn về quan hệ nhân thân và tài sản do cha mẹ ông để lại. Ngày 24/02/2020 ông khởi kiện yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng đến ngày 17/4/2021 ông nộp đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế, nay ông xác định yêu cầu khởi kiện cụ thể: Ông yêu cầu chia di sản thừa kế theo pháp luật của cha mẹ để lại, ông yêu cầu được nhận 1.500m² đất thuộc một phần thửa đất số 3403, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại Áp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An, hiện nay ông đang quản lý sử dụng và đã được cụ C xây nhà ở trên đất cho ở từ trước đến nay. Khi ông N yêu cầu ông ký văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế thì ông không biết nội dung là thỏa thuận chia di sản thừa kế cho ông N vì ông N nói ký để cho ông N sửa nhà, sau này ông mới biết đó là văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế. Ông thống nhất yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thanh T2 và ông Văn Minh T1 do ông Phạm Minh D đại diện trình bày:
Ngày 15/12/2018 vợ chồng ông T1 và bà T2 có đặt cọc để nhận chuyển nhượng của ông N thửa đất số 3411 và một phần thửa 3403 (tách thành thửa 7298). Thửa 3411 nhận chuyển nhượng với giá 580.000.000đồng, ông T1 và bà T2 đã thanh toán đủ số tiền trên cho ông N nên ngày 21/12/2018, ông T1 và bà T2 và ông Nguyễn Ngọc N đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng tại Văn phòng Công chứng H, ông N đã giao đất cho bà T2 và ông T1 sử dụng, hiện nay ông T1 và bà T2 đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với một phần thửa 3403 (tách thành thửa 7298) diện tích 1.400m², hai bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 700.000.000đồng/1000m², ông T1 và bà T2 đã thanh toán đủ cho ông N số tiền 980.000.000đồng nên ngày 22/7/2019 ông T1, bà T2 với ông N đã ký hợp đồng chuyển nhượng tại Văn phòng Công chứng L, nhưng chưa sang tên cho bà T2 và ông T1 do phía nguyên đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông T1 và bà T2 không đồng ý, ông T1 và bà T2 có yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc N với bà Phạm Thị Thanh T2 đối với thửa đất số 3411, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.421m² loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An được Văn phòng Công chứng H công chứng số 4770, quyển số 03/TP-CC-SCC/HĐGD ngày 21/12/2018; yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc N với bà Phạm Thị Thanh T2 đối với thửa đất số 7298 (tách từ thửa 3403), tờ bản đồ số 3, diện tích 1.400m² loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An được Văn phòng Công chứng L công chứng số 7119, quyển số 08/TP-CC-SCC/HĐGD ngày 22/7/2019. Trường hợp Tòa án tuyên vô hiệu các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, buộc ông N trả lại số tiền tương đương giá trị các thửa đất tại thời điểm xét xử.
-
Trong văn bản số 241/CV-BIDV-QLRR ngày 16/5/2022, Ngân hàng T trình bày:
Ngày 02/6/2021, ông Nguyễn Ngọc N và bà Võ Thị C có vay số tiền 1.200.000.000đồng tại Ngân hàng T Long An và thế chấp cho Ngân hàng 02 thửa đất số 86, 87, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã L, huyện C1, tỉnh Long An. Ngày 05/5/2022 ông Nguyễn Ngọc N đã trả hết khoản vay trên và Ngân hàng T Long An đã giải chấp, xuất kho giao trả 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho khách hàng. Do đó, Ngân hàng T – Chi nhánh Long An không còn tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nên Ngân hàng không tham gia tố tụng trong vụ án.
-
Trong văn bản số 02/CV.VPCCCĐ.2022 ngày 21/01/2022, Văn phòng Công chứng C trình bày:
Văn phòng Công chứng C có công chứng Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế do Công chứng viên Nguyễn Kim H công chứng ngày 28/7/2015, số công chứng 1105, quyển số 02TP/CC-SCCHĐGD và Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế do Công chứng viên Dương Tấn Đ, Văn phòng công chứng C công chứng ngày 30/7/2015, số công chứng 1117, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD. Văn phòng công chứng C, tỉnh Long An đã thực hiện công chứng đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định, Văn phòng công chứng không có ý kiên gì thêm. Văn phòng công chứng C xin vắng mặt toàn bộ quá trình Toà án giải quyết vụ án.
-
Trong văn bản số 163/CV-VPCC ngày 09/12/2021, Văn phòng Công chứng L trình bày:
Ngày 22/7/2019, ông Nguyễn Ngọc N nộp hồ sơ tại Văn phòng Công chứng L yêu cầu công chứng “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” tại một phần thửa đất 3403, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.400m², tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An với giá chuyển nhượng 80.000.000đồng cho bà Phạm Thị Thanh T2. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Văn phòng Công chứng L đã soạn thảo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo yêu cầu của hai bên, sau đó hai bên tự đọc lại toàn bộ nội dung hợp đồng, đồng ý nội dung và ký tên vào hợp đồng (riêng ông Nguyễn Ngọc N có điểm chỉ) trước sự chứng kiến của công chứng viên. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, hai bên có năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, việc giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hoặc ép buộc, hồ sơ yêu cầu công chứng phù hợp theo quy định, nội dung hợp đồng công chứng không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội, vì vậy Văn phòng Công chứng L đã chứng nhận hợp đồng trên. Văn phòng xin vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
-
Trong văn bản số 16/CV ngày 16/12/2021 Văn phòng Công chứng Lê Hồng Bảo T trình bày:
Hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 4770, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/12/2018 được ký kết giữa ông N với bà T2 được thực hiện trên cơ sở tự nguyện giữa các bên tham gia giao dịch và tiến hành đúng trình tự pháp luật quy định. Nếu người khởi kiện chứng minh được nguồn gốc giấy chứng nhận của thửa đất 3411 nêu trên được cấp sai quy định thì xét hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng số công chứng 4770, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 21/12/2018 được ký kết giữa ông N với bà T2. Trên đây là hợp đồng giao dịch thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó văn bản thỏa thuận chia di sản thừa kế liên quan thửa đất số 3411 nêu trên vô hiệu nhưng hợp đồng giao dịch giữa ông N và bà T2 là hợp đồng giao dịch ngay tình, tài sản của ông N được xác lập và cấp giấy chứng nhận từ năm 2015 đến ngày 21/12/2018 ông N tiến hành ký kết hợp đồng chuyển nhượng với bà T2 không có ai khởi kiện; không bị kê biên để đảm bảo thi hành án; không thuộc trường hợp có quyết định thu hồi đất, có thông báo đền bù giải tỏa của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên hợp đồng chuyển nhượng giữa ông N với bà T2 đối với thửa đất nêu trên có hiệu lực. Văn phòng xin vắng mặt các phiên hòa giải và phiên tòa.
-
Trong văn bản số 10095/UBND-TD ngày 16/12/2021, Ủy ban nhân dân huyện C do ông Đào Hữu T đại diện xin vắng mặt toàn bộ quá trình Toà án giải quyết vụ án.
-
Trong văn bản ngày 21/12/2021, Ủy ban nhân dân huyện C1 do ông Nguyễn Hoài T đại diện xin vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án nhân dân huyện C giải quyết theo quy định của pháp luật:
-
Trong biên bản làm việc ngày 16/4/2021, bà Nguyễn Ngọc D1 trình bày:
Bà xác định tại đơn khởi kiện ngày 13/3/2019 bà có ký tên vào, nhưng sau đó bà có làm đơn không nhận thừa kế, bà xác định trong vụ án bà không khởi kiện yêu cầu chia thừa kế, đối với phần di sản bà được hưởng thì bà từ chối nhận phần của bà sẽ chia đều cho các thừa kế.
-
Trong biên bản làm việc ngày 08/3/2022 bà Nguyễn Thị Ngọc T1 trình bày: Trước đây ông N có nhờ ký giấy tờ để ông N sửa nhà nên bà có ký. Trong vụ án chia di sản thừa kế thì bà không có yêu cầu gì, đối với phần di sản thừa kế bà được hưởng thì bà từ chối nhận, đề nghị chia đều cho các đồng thừa kế còn lại, đồng thời bà xin vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
-
Trong văn bản ngày 29/5/2019 và biên bản lấy lời khai ngày 05/01/2022, bà Nguyễn Ngọc Đ trình bày:
Bà từ chối nhận phần di sản của bà được hưởng, nếu phần di sản của bà được hưởng thì sẽ giao cho ông N, bà từ chối tham gia tố tụng và xin vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
-
Trong Văn bản ngày 29/5/2019 và biên bản lấy lời khai ngày 23/02/2022, bà Nguyễn Ngọc X trình bày:
Bà từ chối nhận phần di sản của bà được hưởng, nếu phần di sản của bà được hưởng thì sẽ giao cho ông N, bà từ chối tham gia tố tụng và xin vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
-
Trong văn bản ngày 09/3/2019 và biên bản lấy lời khai ngày 11/02/2022, ông Nguyễn Ngọc S trình bày:
Ông từ chối nhận phần di sản của ông được hưởng, nếu phần di sản của ông được hưởng thì sẽ theo nguyện vọng của cha mẹ ông giao lại cho ông N, ông từ chối tham gia tố tụng và xin vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
-
Bà Võ Thị C, bà Trần Thị Thanh T, chị Nguyễn Thị Kim T, anh Nguyễn Trọng T vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
Vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm mở phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không thoả thuận được với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 26/2022/DS-ST ngày 20/6/2022 của Toà án nhân dân huyện C đã căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 217, Điều 227 Điều 228, Điều 266, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 122, Điều 123, Điều 132 Điều 133, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 616 Điều 620, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660, Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 52 của Luật Công chứng; Điều 18 của nghị định số 29/2015/NĐCP về hướng dẫn thi hành Luật Công chứng; Điều 12, Điều 14, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đã tuyên xử:
-
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ngọc D, ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Ngọc G về việc yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc N với bà Phạm Thị Thanh T2 đối với thửa đất số 3411, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.421m² loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An được Văn phòng Công chứng H công chứng số 4770, quyển số 03/TP-CC-SCC/HĐGD ngày 21/12/2018.
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Ngọc G, bà Nguyễn Thị Ngọc D với bị đơn ông Nguyễn Ngọc N về việc tuyên vô hiệu văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế.
-
- Tuyên vô hiệu văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế lập ngày 28/7/2015 tại Văn phòng Công chứng C số công chứng 1105, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD, đối với các thửa đất số 3403, 3404, 3405 cùng tờ bản đồ số 3, diện tích 4.809m², loại đất trồng lúa nước, đất ở nông thôn, đất trồng cây hàng năm khác tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số I 208253, số vào số 01007QSDĐ/0406LA do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 15/10/1996 cho ông Nguyễn Văn C đứng tên; thửa đất số 3411, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.421m², loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q219295, số vào sổ 02117QSDĐ/0406LA, do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 25/01/2000 cho ông Nguyễn Văn C đứng tên.
-
- Tuyên vô hiệu văn bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế lập ngày 30/7/2015, tại Văn phòng công chứng C số công chứng 1117, quyển số 2TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 86 (PCL) diện tích 141,2m² loại đất ở nông thôn, thửa đất số 87, diện tích 32m² loại đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt cùng tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp X, xã L, huyện C1, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 108751 vào sổ số H0321 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 108752 số vào sổ 0326 do Ủy ban nhân dân huyện C1 cấp cùng ngày 13/9/2007 cho ông Nguyễn Văn C đứng tên.
-
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Ngọc G, bà Nguyễn Thị Ngọc D với bị đơn ông Nguyễn Ngọc N và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Ngọc Q về việc chia di sản thừa kế.
Xác định di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn C và cụ Trần Thị A để lại gồm: Thửa đất số 86, diện tích 150m² loại đất ONT và thửa đất số 87, diện tích 32m² loại đất TSN cùng tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã L, huyện C1, tỉnh Long An (theo mảnh trích đo địa chính số 199/2020 ngày 04/5/2020 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất H); Thửa đất số 3411, tờ bản đồ số 3, diện tích 1.511,2m² loại đất LUC tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Long An (theo mảnh trích đo địa chính số 05ML/2020 ngày 11/02/2020 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất H); Thửa đất số 3404, diện tích 401,8m², loại đất ONT; thửa đất số 3405, diện tích 1.277,6m², loại đất BHK; thửa đất số 3403 diện tích 2.801,6m² loại đất LUC cùng tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Long An (theo mảnh trích đo địa chính số 06ML/2020 ngày 11/02/2020 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất H).
Buộc ông Nguyễn Ngọc N chia di sản thừa kế cho ông Nguyễn Ngọc T được quyền quản lý, sử dụng (ghi nhận việc bà Nguyễn Thị Ngọc D và bà Nguyễn Ngọc G tự nguyện cho ông Nguyễn Ngọc T kỷ phần thừa kế được chia là quyền sử dụng đất) khu C1 diện tích 1.301,6m² loại LUC, thuộc một phần thửa đất số 3403 (theo mảnh trích đo địa chính số 06ML/2020 ngày 11/02/2020 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất H) và khu B3 diện tích 644,2m² loại đất BHK, thuộc một phần thửa 3405 (vị trí khu B3 có tự cận cạnh phía Nam chiều dài 44,9m giáp khu C1; cạnh phía Tây chiều dài 13,4m giáp thửa 3402 đo từ vị trí phần giáp khu C1 đến thửa đất số 3404, cạnh phía Bắc chiều dài 26,3m + 17,7m đo từ vị trí giáp khu A phía Tây đến đường Nguyễn Văn C1; cạnh phía Đông chiều dài 15,6m giáp đường Nguyễn Văn C1 đo từ vị trí giáp khu C1 hướng về thửa 3405, theo mảnh trích chính số 06ML/2020 ngày 11/02/2020 và mảnh trích đo bổ sung số 09B/2022 ngày 20/6/2022 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất H) các thửa đất tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Long An.
Chia di sản thừa kế cho ông Nguyễn Ngọc N được quyền quản lý sử dụng thửa 3404 (khu A) diện tích 401,8m² loại đất ONT; phần còn lại của thửa 3405 diện tích 633,4m² (loại đất BHK) theo mảnh trích đo địa chính số 05ML/2020 ngày 11/02/2020 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất H và mảnh trích đo bổ sung số 09B/2022 ngày 20/6/2022 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất H), các thửa đất tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Long An; Thửa đất số 86, diện tích 150m² loại đất ONT và thửa đất số 87, diện tích 32m² loại đất TSN cùng tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã L, huyện C1, tỉnh Long An theo mảnh trích đo địa chính số 199/2020 ngày 04/5/2020 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất H và giá trị quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 3411, diện tích 1.511,2m² loại đất LUC (giá trị là 1.062.373.600đồng).
Buộc ông Nguyễn Ngọc N chia di sản thừa kế cho ông Nguyễn Ngọc Q được quyền quản lý sử dụng khu C3 diện tích 1.118m² và khu C2 diện tích 382m² loại đất LUC thuộc một phần thửa đất số 3403 theo mảnh trích đo địa chính số 06ML/2020 ngày 11/02/2020 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất H) các thửa đất tọa lạc tại xã M, huyện C, tỉnh Long An.
Buộc ông Nguyễn Ngọc N hoàn lại cho ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Ngọc G, bà Nguyễn Thị Ngọc D mỗi người 201.960.700đồng.
Buộc ông Nguyễn Ngọc Q hoàn lại cho ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Ngọc G, bà Nguyễn Thị Ngọc D mỗi người 225.150.500đồng.
Người được thi hành án và người phải thi hành án có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề làm thủ tục đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với các thửa đất số 3403, 3404, 3405, 86, 87 nêu trên.
Trường hợp người phải thi hành án không giao nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với các thửa đất số 3403, 3404, 3405, 86, 87 nêu trên
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc T, bà Nguyễn Thị Ngọc D, bà Nguyễn Ngọc G về việc yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Ngọc N.
Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Phạm Thị Thanh T2 và ông Văn Minh T1 về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc N với bà Phạm Thị Thanh T2 đối với thửa đất số 7298 (tách từ thửa 3403), tờ bản đồ số 3, diện tích 1.400m² loại đất chuyên trồng lúa nước, tọa lạc tại Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BY994822 do UBND huyên C cấp ngày 13/8/2015 cho ông Nguyễn Ngọc N, được Văn phòng Công chứng L công chứng số 7119, quyển số 08/TP-CC-SCC/HĐGD ngày 22/7/2019.
Buộc ông Nguyễn Ngọc N có trách nhiệm trả bà Phạm Thị Thanh T2 và ông Văn Minh T1 số tiền 980.000.000đồng và bồi thường số tiền 480.900.000đồng. Tổng cộng ông N phải trả cho bà T2 và ông T1 là 1.460.900.000đồng.
Buộc bà Phạm Thị Thanh T2 và ông Văn Minh T1 phải giao trả lại cho ông Nguyễn Ngọc T quyền sử dụng đất khu C1 diện tích 1.301,6m² loại đất lúa thuộc một phần thửa đất số 3403 theo mảnh trích đo địa chính số 06ML/2020 ngày 11/02/2020 và mảnh trích đo địa chính số 09/B-2022 ngày 20/6/2022 của Công ty TNHH đo đạc nhà đất H.
-
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên có nghĩa vụ chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
-
Huỷ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2019/QĐ-BPKCTT ngày 29/7/2019 và huỷ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 08/2021/QĐ-BPKCTT ngày 27/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Bà Nguyễn Thị Ngọc D được nhận lại số tiền 330.000.000đồng theo thông báo phong toả tài khoản ngày 23/12/2021 của Ngân hàng N, Chi nhánh huyện C thực hiện Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 01/QĐ-BPBĐ ngày 23/12/2021 của Toà án nhân dân huyện C.
Bà Nguyễn Thị Ngọc D được nhận lại số tiền 100.000.000đồng đã nộp tại tài khoản số 6605604075615 ngày 09/5/2019 của Ngân hàng N, Chi nhánh huyện C bị phong tỏa tài khoản ngày 29/7/2019 do thực hiện Quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm số 02/2019/QĐ-BPBĐ ngày 29/7/2019 của Toà án nhân dân huyện C.
-
Về chi phí đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản:
Bà Nguyễn Thị Ngọc D tự nguyện chịu 45.950.000.000đồng, bà D đã nộp đủ.
Bà Phạm Thị Thanh T2 tự nguyện chịu 18.900.000đồng, bà T2 đã nộp và chi phí xong.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu 50.011.400đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai thu số 0001285 ngày 31/5/2019, 300.000đồng theo biên lai thu số 0009709 ngày 20/4/2021 và 3.894.000đồng theo biên lai thu số 0001127 ngày 18/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An; bà D phải nộp tiếp số tiền 45.517.400đồng.
Bà Nguyễn Ngọc G phải chịu 50.011.400đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.894.000đồng theo biên lai thu số 0001128 ngày 18/4/2019, 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001286 ngày 31/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An; bà G phải nộp tiếp số tiền 45.817.400đồng.
Ông Nguyễn Ngọc Q phải chịu 50.011.400đồng; nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 35.137.500 đồng theo biên lai thu số 0009725 ngày 26/4/2021 và 300.000đồng theo biên lai thu số 0008269 ngày 24/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An; ông Q phải nộp tiếp số tiền 14.573.900đồng.
Ông Nguyễn Ngọc N phải chịu 113.068.000đồng án phí chia thừa kế và 55.827.000đồng án phí trên số tiền phải trả cho bà T2, ông T1 và 300.000đồng án phí trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu. Tổng cộng là 169.195.000đồng.
Bà Phạm Thị Thanh T2 và ông Văn Minh T1 phải chịu 300.000đồng án phí vô hiệu hợp đồng nhưng được được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000đồng theo biên lai thu số tiền 0009804 ngày 29/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An, hoàn trả cho bà T2 và ông T1 số tiền 300.000đồng còn thừa. Bà T2 và ông T1 không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả cho bà Phạm Thị Thanh T2 và ông Văn Minh T1 mỗi người 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011527, 0011528 cùng ngày 13/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
Miễn án phí cho ông Nguyễn Ngọc T. Hoàn trả cho ông Nguyễn Ngọc T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 3.894.000đồng theo biên lai thu số 0001126 ngày 18/4/2019 và 300.000đồng theo biên lai thu số 0001284 ngày 31/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An.
Ông Nguyễn Ngọc N phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai số 0011509 ngày 08/7/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện C.
-
Về quyền và nghĩa vụ thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
-
Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Nga |
Bản án số 335/2022/DS-PT ngày 22/11/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp thừa kế, yêu cầu vô hiệu văn bản công chứng, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 335/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế, yêu cầu vô hiệu văn bản công chứng, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Tâm “Tranh chấp thừa kế, yêu cầu vô hiệu văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, yêu cầu vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” Nguyễn Ngọc N
