TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 334A/2023/DS-PT
Ngày 15-8-2023
V/v: yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hồng;
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Ngọc Dũng;
Ông Nguyễn Chí Đức.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Triệu Anh Thư - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre: Bà Nguyễn Thị Xa Riêng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 156/2023/TLPT-DS ngày 24 tháng 5 năm 2023 về “Yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2023/DS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1275/2023/QĐPT-DS ngày 13 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1958
Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1963
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1962;
Địa chỉ: thôn 1, xã I, huyện E, tỉnh Đaklak.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị Kim L: Bà Nguyễn Thị Kim T; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (có mặt).
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim T: Bà Lê Thị Thùy V, là Luật sư của Văn phòng Luật sư Lê Thùy V thuộc Đoàn Luật sư tỉnh V (có mặt).
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Mạnh T1, sinh năm 1978 (có mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Văn Mạnh T2: Ông Nguyễn Văn T3, là Luật sư của Văn phòng Luật sư Nguyễn Văn T3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Văn Ú - Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn N1 - Chuyên viên Văn phòng Ủy ban nhân dân huyện M (vắng mặt).
Bà Nguyễn Thị Kim E, sinh năm 1969;
Địa chỉ: Thôn 1, xã I, huyện E, tỉnh Đaklak.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim E: Bà Nguyễn Thị Kim T; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (có mặt).
Bà Trần Thị Bích T4, sinh năm 1980;
Anh Nguyễn Minh T5, sinh năm 1996;
Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre;
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích T4, ông Nguyễn Minh T5: Ông Nguyễn Văn Mạnh T1, sinh năm 1978; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (có mặt).
Ông Trần Văn T6, sinh năm 1971 (vắng mặt);
Bà Võ Thị Ở, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ: ấp Q, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
Ông Trần Phạm Thiên T7, sinh năm 1991;
Địa chỉ: 1 đường Â, phường C, quận H, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Phạm Thiên T7: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số G Đ, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt);
Ông Lê Văn H, sinh năm 1958; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Anh Lê Nguyễn Duy Đ, sinh năm 1992; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Anh Lê Nguyễn Đức H1, sinh năm 1999; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn H, anh Lê Nguyễn Duy Đ, anh Lê Nguyễn Đức H1: Bà Nguyễn Thị Kim T; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (có mặt).
Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn M - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Minh V1 - Công chức Văn phòng Ủy ban nhân dân xã T (có đơn xin vắng).
- Người kháng cáo: nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T; bị đơn ông Nguyễn Văn Mạnh T2; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung bản án sơ thẩm,
Nguyên đơn là Nguyễn Thị Kim T (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim L; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Kim E, ông Lê Văn H, anh Lê Nguyễn Duy Đ, anh Nguyễn Đức H1) trình bày:
Bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L yêu cầu:
Tuyên văn bản phân chia di sản thừa kế do Ủy ban nhân dân xã T, huyện M lập ngày 22/4/2015, ký và đóng dấu ngày 01/6/2015 là vô hiệu.
Chia thừa kế di sản do mẹ chết để lại cho 03 chị em là bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L: 1973,9m² đất thuộc thửa 196, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre ((2631,9 : 4) x 3 = 1973,9m²); 2094,3m² đất thuộc thửa đất số 186a; thửa đất ký hiệu là thửa 183b và 183c theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 21/7/2022 ((2614,1 + 163,80 + 14,5): 4) x 3 = 2094,3m²) thuộc tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L chỉ đồng ý cho ông Nguyễn Văn M1 T2 được thừa kế từ cụ Nguyễn Thị A 658m² đất thuộc thửa số 196, tờ bản đồ số 14 và 698,1m² đất thuộc thửa số 186, tờ bản đồ số 14. Riêng bà Nguyễn Thị Kim E được mẹ chia cho phần đất có ký hiệu 186b có diện tích 1315,4m² thuộc một phần thửa 186, tờ bản đồ số 14 và đã bán cho bà Nguyễn Thị Kim T nên phần đất này không chia cho bà Nguyễn Thị Kim E nữa.
Điều chỉnh cho bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Thị Kim T được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với 1973,9m² đất thuộc thửa 196, tờ bản đồ số 14; 2094,3m² đất thuộc thửa đất số 186a; thửa đất ký hiệu là thửa 183b và 183c theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 21/7/2022 thuộc tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Buộc ông Nguyễn Văn Mạnh T2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Bích T4, anh Nguyễn Minh T5 phải giao trả 2094,3m² đất thuộc thửa đất số 186a; thửa đất ký hiệu là thửa 183b và 183c theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 21/7/2022 ((2614,1 + 163,8+14,5): 4) x 3 = 2094,3m²) thuộc tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre cho 03 chị em sử dụng.
Buộc ông Trần Phạm Thiên T7 phải giao trả 1973,9m² đất thuộc thửa 196, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre cho 03 chị em sử dụng.
Bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L yêu cầu:
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 303144 cấp cho ông Nguyễn Văn M1 Thùy do Ủy ban nhân dân huyện M cấp vào ngày 22/6/2015 cấp đối với thửa 186, tờ bản đồ số 14.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 303143 cấp cho ông Nguyễn Văn M1 Thủy do Ủy ban nhân dân huyện M cấp vào ngày 22/6/2015 cấp đối với thừa 196, tờ bản đồ số 14.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 900780 cấp cho ông Trần Văn T6 và bà Võ Thị Ở do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp vào ngày 06/7/2017 đối với thửa 196, tờ bản đồ số 14.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 316267 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Trần Phạm Thiên T7 vào ngày 04/02/2021 cấp đối với thửa 196, tờ bản đồ số 14.
Bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L yêu cầu:
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do vợ chồng ông Nguyễn Văn Mạnh T2, bà Nguyễn Thị Bích T8 xác lập với ông Trần Văn T6 và bà Võ Thị Ở vào ngày 09/6/2017.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do vợ chồng ông Trần Văn T6 và bà Võ Thị Ở xác lập với ông Trần Phạm Thiên T7 vào ngày 27/11/2020.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do vợ chồng ông Trần Văn T6 và bà Võ Thị Ở xác lập với ông Trần Phạm Thiên T7 vào ngày 07/01/2021.
Những nội dung yêu cầu trên thay thế cho tất cả các yêu cầu theo các đơn khởi kiện đã nộp trước đây, là yêu cầu cuối cùng của bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L.
Bà Nguyễn Thị Kim T và ông Lê Văn H yêu cầu:
Tuyên văn bản phân chia di sản thừa kế do Ủy ban nhân dân xã T, huyện M lập ngày 22/4/2015, ký và đóng dấu ngày 01/6/2015 là vô hiệu.
Công nhận cho bà Nguyễn Thị Kim T và ông Lê Văn H là chủ sử dụng hợp pháp của 1315.4m² đất thuộc một phần thửa 186, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 24/02/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M được ký hiệu là thừa 186b); đồng thời điều chỉnh cho bà Nguyễn Thị Kim T và ông Lê Văn H được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với 1315,4m² đất thuộc một phần thửa 186, tờ bản đồ số 14 nêu trên.
Công nhận phần đất có diện tích 204,5m² (được ký hiệu là thửa Ab1 và Ab2 theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất lập ngày 21/7/2022) thuộc một phần của thửa 186, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim T và ông Lê Văn H (do bà Nguyễn Thị Kim T và ông Lê Văn H đã trao đổi phần diện tích 204,5m² này với phần đất có diện tích 178,3m² (được ký hiệu thừa 183b và 183c theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 21/7/2022) thuộc thửa 183, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M thuộc quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị Kim T và ông Lê Văn H; đồng thời điều chỉnh cho bà Nguyễn Thị Kim T và ông Lê Văn H được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với 204,5m² (được ký hiệu là thửa Ab1 và Ab2 theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất lập ngày 21/7/2022) thuộc một phần của thửa 186, tờ bản đồ số 14 nêu trên.
Buộc ông Nguyễn Văn Mạnh T2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trần Thị Bích T4, Nguyễn Minh T5 phải giao trả 2094,3m² đất thuộc thửa đất số 186a và thửa đất ký hiệu là thửa 183b và 183c theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 21/7/2022 ((2614,1+163,80+14,5): 4) x 3 = 2094,3m²) thuộc tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M cho ông bà sử dụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim E trình bày:
Không có yêu cầu tranh chấp gì đối với các anh chị em. Bà Kim E có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Kim T như bà Kim T trình bày, đồng ý yêu cầu của bà Kim T và ông H liên quan đến thửa đất 186b.
Lý do yêu cầu:
Bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Thị Kim E và ông Nguyễn Văn M1 T2 là con ruột của cụ Nguyễn Thị A và cụ Nguyễn Văn T9 (tên gọi khác là Nguyễn Văn C). Cụ T9 chết năm 1990, cụ A chết năm 2012, đều không lập di chúc.
Từ năm 1973, bà N, Kim T, Kim L cùng mẹ là cụ A đã cùng góp công sức khai phá được 02 thửa đất là thửa 186 (diện tích 4134,1m²), thửa 196 (diện tích 2636m², sau đó sửa sai thành 2631,9m²), cùng tờ bản đồ số 14 (trước đây là thừa đất 1952, 2125 và 2126, cùng tờ bản đồ số 2), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Nguồn gốc đất trước năm 1973 là của ông ngoại của bà N, Kim T, Kim L. Trong thời gian chiến tranh, ông ngoại không canh tác bỏ hoang. Vào năm 1973, chính quyền địa phương lúc bấy giờ thấy cụ A nghèo khổ, phải nuôi 04 con nhỏ, chồng đi tập kết ngoài Bắc, bên chồng không quan tâm giúp đỡ mới cho 02 phần đất này khai phá, canh tác để nuôi con. Hai phần đất này không phải tài sản của cụ T9 vì cụ đi tập kết ra miền B đến năm 1985 mới trở về, không có công khai phá, bồi đắp đất.
Bà Kim T có chồng vào năm 1987, bà N và bà Kim L lấy chồng trước bà T nhưng không nhớ năm nào. Đất sau đó do cụ A quản lý, sử dụng.
Vào ngày 16/8/1997, hộ của cụ A được Ủy ban nhân dân huyện M (nay là huyện M) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 02 phần đất nêu trên. Cụ Anh canh tác, quản lý đất đến khi cụ chết.
Khi cụ A còn sống, cụ A có cho bà Kim E khoảng 1000m² đất (lúc đó không có đo diện tích chính xác, hiện nay là thửa 186b diện tích 1315,4m²) trong thửa đất 186. Sau đó bà Kim E đã “bán” cho vợ chồng bà Kim T, ông H phần đất này với giá 30.000.000 đồng vào năm 2012, không có làm giấy tờ. Riêng quá trình quản lý thực tế thì vợ chồng bà Kim T, ông H đã quản lý đất từ năm 2000. Việc mua bán đất này tất cả các chị em đều biết, kể cả ông Mạnh T2. Nên nay vợ chồng bà Kim T, ông H yêu cầu Tòa công nhận phần đất này là của mình và buộc ông Mạnh T2 thực hiện các thủ tục sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất để bà Kim T và ông H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (do đã nhận chuyển nhượng đất từ bà Kim E và đang quản lý đất).
Sau khi cụ A chết, các chị em thống nhất tạm giao cho ông Mạnh T2 quản lý thửa 196 và phần còn lại của thửa 186 (trừ phần diện tích 1315,4m² do vợ chồng bà Kim T quản lý). Đến năm 2015, ông Mạnh T2 có đề nghị các chị em ký giấy tờ liên quan đến 02 thửa đất 186 và 196 để cho ông Mạnh T2 vay vốn ngân hàng. Còn việc thực hiện thủ tục, giấy tờ gì để ông Mạnh T2 được vay vốn thì các chị em hoàn toàn không biết. Do tin tưởng vào lời nói của ông Mạnh T2 và không hiểu rõ quy định của pháp luật nên bà Kim T, bà N, bà Kim E đã đến Ủy ban nhân dân xã T ký vào văn bản có tựa “Văn bản phân chia tài sản thừa kế”. Khi ký văn bản này, bà N không biết chữ nên không biết được nội dung ghi trong đó, cũng không ai đọc lại cho bà N nghe. Đối với bà Kim L, không có về ký tên vào văn bản nhưng văn bản lại thể hiện có chữ ký dạng chữ viết “Lan”, năm sinh của bà Kim L thể hiện trong văn bản này cũng không đúng (bà Kim L sinh năm 1962 nhưng văn bản ghi năm sinh là 1960). Việc ký tên của các chị em như nêu trên cũng không thực hiện cùng 01 lượt mà do ông Mạnh T2 chở lần lượt từng người một đến Ủy ban nhân dân xã ký, tức người này ký thì không có mặt những người còn lại. Các chị em cũng không ký tên trước mặt ông P1 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã như văn bản đã ghi. Từ văn bản này, vào ngày 22/6/2015, Ủy ban nhân dân huyện M đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Mạnh T2, các chị em hoàn toàn không biết.
Sau khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Mạnh T2 đã chuyển nhượng cho ông Trần Văn T6, bà Võ Thị Ở thửa đất 196, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T6, bà Ở vào ngày 06/7/2017, các chị em hoàn toàn không biết, đến khi vợ chồng ông T6 cho người đến cắm ranh thì mới biết. Thửa 196 này, vợ chồng ông T6 đã chuyển nhượng lại cho ông Trần Phạm Thiên T7 trong thời gian Tòa án đang giải quyết vụ án này, mặc dù Tòa án đã thông báo đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện là đất đang tranh chấp không được thực hiện sang tên cho người khác nhưng không hiểu vì sao cơ quan có thẩm quyền vẫn thực hiện thủ tục sang tên và vào ngày 04/02/2021, ông T7 đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với phần đất khi đo đạc thực tế ký hiệu thửa 183b và 183c, tổng diện tích 178.3m² nằm trong thửa 183, tờ bản đồ số 14 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng bà Kim T, ông H. Hai thửa đất 183b và 183c hiện do vợ chồng bà Kim T, ông H quản lý, trên thửa 183b có 02 ngôi mộ của cụ A và cụ T9. Trước đây (không nhớ ngày tháng năm nào), vợ chồng bà Kim T và ông Mạnh T2 có thỏa thuận đổi 02 thửa đất ký hiệu 183b và 183c với thửa đất đo đạc thực tế ký hiệu Ab1 và Ab2, tổng diện tích 204.5m² nằm trong thửa 186, tờ bản đồ số 14. Việc đổi đất này các chị em (kể cả ông Mạnh T2) đều có họp gia đình thống nhất nhưng không có lập văn bản, giấy tờ.
Do văn bản có tựa “Văn bản phân chia tài sản thừa kế” ghi ngày 22/4/2015, được Ủy ban nhân dân xã T B chứng thực ngày 01/6/2015 không đúng quy định pháp luật nên các chị em là bà N, Kim T, Kim L yêu cầu tuyên bố vô hiệu. Đồng thời do có việc chuyển nhượng thửa đất ký hiệu 186b như nêu trên; cũng như có việc đổi đất tại 02 thửa đất ký hiệu 183b và 183c với thửa đất đo đạc thực tế ký hiệu Ab1 và Ab2 nên bà N, Kim T và Kim L đồng thời yêu cầu hủy các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất liên quan đến thửa đất 196, yêu cầu hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Mạnh T2 (đối với 02 thửa đất 186, 196) và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng ông T6, bà Ở, cấp cho ông T7 (đối với thửa 196); để phân chia di sản thừa kế theo pháp luật 02 thửa 186, 196 do mẹ là cụ A chết để lại (trừ phần đất đo đạc thực tế ký hiệu 186b).
Đồng ý với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn Mạnh T1 (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bích T4, anh Trần Minh T10) trình bày:
Nguồn gốc đất là của mẹ là cụ Nguyễn Thị A. Ngày 16/8/1997, cụ A được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích là 5.750m². Sau khi đo đạc chính quy tách thành 02 thửa 186, tờ bản đồ số 14 có diện tích 4.164,6m² và thửa 196, tờ bản đồ số 14 có diện tích 2.636m².
Ngày 02/10/2012, mẹ chết. Đến ngày 22/4/2015, các chị của ông về ký “Văn bản phân chia tài sản thừa kế” tại Ủy ban nhân dân xã T để phân chia thừa kế quyền sử dụng đất của mẹ cho ông gồm thửa 186 và 196 cho ông. Ngày 22/6/2015, ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông quản lý canh tác không ai tranh chấp.
Thửa đất 196, ông đã thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng cho vợ chồng ông Trần Văn T6 với giá 1.050.000.000 đồng, để lấy tiền trả nợ. Ông T6 đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó ông T6 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông T7, nội dung chuyển nhượng như thế nào thì ông không biết.
Đối với thửa 186, hiện vợ chồng ông quản lý, đang cất nhà ở, xung quanh trồng cây. Riêng phần đất mà bà Kim T cho rằng mua của bà Kim E thì do bà Kim T quản lý.
Nay các chị của ông khởi kiện yêu cầu như trên, ông không đồng ý toàn bộ. Do đất không còn là di sản thừa kế của mẹ. Đối với việc bà Kim T và ông H yêu cầu thửa 186b cho rằng mua của bà Kim E, ông cũng không đồng ý chuyển quyền sử dụng. Đối với việc bà Kim T, ông H yêu cầu đổi đất giữa thửa 183b, 183c và thửa Ab1, Ab2, ông cũng không đồng ý. Không đồng ý hỗ trợ tiền công
sức đóng góp cho bà N, bà Kim L như Biên bản hòa giải tại Tòa án trước đây. Do trước đó ông muốn chị em hòa thuận nên thỏa thuận hỗ trợ tiền công sức đóng góp nhưng hiện nay không thỏa thuận được nên không đồng ý.
Đồng ý với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T6, bà Võ Thị Ở cùng người đại diện theo ủy quyền là ông Trần N2 trình bày:
Đối với thửa đất số 196, tờ bản đồ số 14, tọa lạc ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre, ông T6 và bà Ở nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn Mạnh T2. Sau khi nhận chuyển nhượng, vợ chồng ông T6 và bà Ở quản lý, thu hoạch dừa. Hiện nay ông T6 và bà Ở đã chuyển quyền sử dụng đất cho ông Trần Phạm Thiên T7, không còn quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Phạm Thiên T7 trình bày trong quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị P trình bày tại phiên tòa:
Ông T7 có nhu cầu mua đất tại huyện M để kinh doanh làm kho. Thông qua những người giới thiệu, ông T7 biết được ông Trần Văn T6 và bà Võ Thị Ở có bán thửa đất số 196 với diện tích 2636m² thuộc tờ bản số số 14 với giá là 4.910.000.000 đồng. Sau đó ông T7 và vợ chồng ông Tó có ký hợp đồng chuyển nhượng phần đất trên và được thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng quy định. Căn cứ Điều 133 Bộ luật dân sự năm 2015 về bảo vệ người thứ ba ngay tình, xác định ông T7 là người thứ ba ngay tình trong vụ án này. Vì khi ký hợp đồng đầu tiên với vợ chồng ông T6, ông T7 hoàn toàn không biết đất đang tranh chấp nhưng do đã thực hiện trả tiền và nhận đất xong nên ông T7 mới thực hiện hợp đồng chuyển nhượng tiếp theo để đảm bảo quyền lợi của mình.
Đối với việc tranh chấp quyền thừa kế của gia đình ông Mạnh T2, ông T7 hoàn toàn không được biết vào trước đó cũng như hoàn toàn không liên quan đến những giao dịch đó. Hiện ông T7 đang quản lý đất, đã thực hiện cải tạo đất, bơm cát toàn bộ diện tích đất. Không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre là ông Phạm Văn N1 trình bày:
Theo hồ sơ địa chính tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M thể hiện: Năm 1995, đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất xã T, cụ Nguyễn Thị A đứng tên kê khai trong hồ sơ địa chính diện tích thửa đất 186, 196, tờ bản đồ số 14, xã T và được Ủy ban nhân dân huyện M (nay là huyện M) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 16/8/1997 cho hộ cụ Nguyễn Thị A.
Năm 2012, cụ A chết, ông Nguyễn Văn Mạnh T2 lập thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất các thửa đất nêu trên (Văn bản phân chia tài sản thừa kế được Ủy
ban nhân dân xã T chứng thực ngày 01/6/2015, số 56, quyển 1). Ngày 02/6/2015, ông Mạnh T2 có đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất, kèm theo văn bản phân chia tài sản thừa kế nêu trên và các giấy tờ có liên quan nộp tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ) huyện M để thực hiện đăng ký biến động thửa đất số 186, 196 và ông Mạnh T2 đã được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 22/6/2015 theo đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 99 của Luật đất đai năm 2013.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre trình bày trong quá trình tố tụng, người đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Minh V1 tại phiên tòa:
Ủy ban nhân dân xã T không đồng ý việc bà N, Kim T, Kim L yêu cầu tuyên “Văn bản phân chia tài sản thừa kế” vô hiệu. Do Ủy ban nhân dân xã đã thực hiện đúng về trình tự thủ tục chứng thực đối với yêu cầu chứng thực văn bản phân chia di sản thừa kế quy định tại Nghị định số 23/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (Nghị định 23 của Chính phủ có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/4/2022). Cụ thể: Ông Nguyễn Văn Mạnh T1, sinh năm 1978, đăng ký thường trú ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre có trực tiếp đến Ủy ban nhân dân xã yêu cầu Ủy ban nhân dân xã T B chứng thực văn bản phân chia di sản thừa kế đề ngày 22/4/2015. Khi tiếp nhận hồ sơ đối với trách nhiệm của công chức (Tư pháp, địa chính xã) được giao nhiệm vụ đã kiểm tra đầy đủ hồ sơ và đảm bảo hồ sơ, thủ tục chứng thực văn bản phân chia thừa kế của ông Mạnh T1 theo đúng quy định pháp luật. Với trách nhiệm được giao đối với người thực hiện chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp xã (là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã) đã thực hiện đúng quy định tại khoản 2, Điều 35 và khoản 3, Điều 43 Nghị định số 23 nêu trên. Tại thời điểm ký chứng thực, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã đã thực hiện ký theo thẩm quyền và chịu trách nhiệm đối với lời chứng mẫu.
Đối với nội dung lời chứng và chịu trách nhiệm về thời gian, địa điểm ký văn bản phân chia di sản thừa kế, năng lực hành vi dân sự, ý chí tự nguyện, chữ ký trong văn bản của những người ký vào văn bản phân chia thừa kế đối với bản phân chia di sản thừa kế do UBND xã T lập ngày 22/4/2015 và ký đóng dấu ngày 01/6/2015 do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T tại thời điểm ký là đúng quy định pháp luật. Còn về ý hiểu trong lời chứng “Ký văn bản này trước mặt tôi” theo người khởi kiện là phải ký trước mặt Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã lúc đó, nhưng theo quy định tại Nghị định số 23/NĐ-CP và Thông tư 20/2015/TT-BTP cũng chưa được quy định chi tiết, do pháp luật về chứng thực trong thời điểm này mới chuyển tiếp và chưa được hoàn thiện, cho đến ngày
03/3/2020 Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 01/2020/TT-BTP quy định chi tiết và hướng thi hành một số điều của Nghị định số 23/NĐ-CP, trong đó đã quy định chi tiết mẫu lời chứng thực là ký/điểm chỉ trước mặt “họ và tên người tiếp nhận hồ sơ” (Công chức Tư pháp hộ tịch) và sau đó người có thẩm quyền chứng thực (Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND cấp xã) sẽ chứng thực chữ ký của người yêu cầu chứng thực.
Về biểu mẫu thủ tục chứng thực văn bản phân chia thừa kế, Ủy ban nhân dân xã đã thực hiện đúng biểu mẫu được ban hành theo Quyết định số 900/QĐ-UBND ngày 20/5/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc công bố 38 thủ tục hành chính mới; 44 thủ tục hành chính bị bãi bỏ thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở T; và biểu mẫu quy định tại khoản 3, 4, 5 Mục I Thông tư Liên tịch số 04/2006/TTLT-BTP-BTNMT của Bộ T11 và Bộ Tư pháp quy định về hợp đồng, văn bản về bất động sản được sử dụng theo mẫu thông tư này: Cụ thể mẫu phân chia di dản thừa kế (mẫu số 58/VBPC).
Về thời gian niêm yết: Thực hiện đúng quy định tại tiểu mục 3.3, Mục II Thông tư nêu trên: “Trường hợp chứng thực văn bản phân chia tài sản thừa kế, văn bản nhận tài sản thừa kế thì thời hạn niêm yết 30 ngày đối với việc phân chia tài sản thừa kế, nhận tài sản thừa kế không tính vào thời hạn chứng thực nêu tại điểm 3.4 khoản này”.
Trong quá trình thực hiện niêm yết văn bản phân chia thừa kế đã thực hiện đúng quy định tại khoản 7, Mục I của Thông tư số 03/2001/TT-TP-CC ngày 14/03/2001 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 của Chính phủ về công chứng, chứng thực.
Ủy ban nhân dân xã T đã thực hiện đúng về trình tự thủ tục việc chứng thực đối với yêu cầu chứng thực văn bản phân chia di sản thừa kế lập ngày 22/4/2015 và ký đóng dấu ngày 01/6/2015 nên không đồng ý việc tuyên vô hiệu.
Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam đưa vụ án ra xét xử.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2023/DS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đã tuyên:
Áp dụng khoản 2, 3, 5, 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 68, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ Điều 166, Điều 167, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ Điều 117, 274, 280, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVWQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L về việc yêu cầu tuyên bố “Văn bản phân chia tài sản thừa kế” lập ngày 22/4/2015, do Ủy ban nhân dân xã T, huyện M ký, đóng dấu ngày 01/6/2015 vô hiệu.
Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L về việc chia thừa kế di sản do cụ Nguyễn Thị A chết để lại (cho 03 người): Diện tích 1973,9m² đất thuộc thửa 196, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre ((2631,9: 4) x 3 = 1973,9m²); Và diện tích 2094,3m² đất thuộc: Thửa đất số 186a và thửa đất ký hiệu là thửa 183b và 183c - theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 21/7/2022 ((2614,1 + 163,80+ 14,5): 4) x 3 = 2094,3m²) thuộc tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L về việc yêu cầu điều chỉnh cho bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Thị Kim T được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với: Diện tích 1973,9m² đất thuộc thửa 196, tờ bản đồ số 14; Và diện 2094,3m² đất thuộc thửa đất số 186a và thửa đất ký hiệu là thửa 183b và 183c theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 21/7/2022 thuộc tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.
Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L về việc buộc ông Nguyễn Văn M1 T1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Trần Thị Bích T4, anh Nguyễn Minh T5 phải giao trả: Diện tích 2094,3m² đất thuộc thửa đất số 186a và thửa đất ký hiệu là thửa 183b và 183c theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 21/7/2022 ((2614,1 + 163,80+ 14,5): 4) x 3 = 2094,3m²) thuộc tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre cho 03 chị em sử dụng.
Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L về việc buộc ông Trần Phạm Thiên T7 phải giao trả: Diện tích 1973,9m² đất thuộc thửa 196, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre cho 03 người sử dụng.
Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L về việc:
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 303144 cấp cho ông Nguyễn Văn M1 Thủy do Ủy ban nhân dân huyện M cấp vào ngày 22/6/2015 cấp đối với thửa 186, tờ bản đồ số 14.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 303143 cấp cho ông Nguyễn Văn M1 Thủy do Ủy ban nhân dân huyện M cấp vào ngày 22/6/2015 cấp đối với thửa 196, tờ bản đồ số 14.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 900780 cấp cho ông Trần Văn T6 và bà Võ Thị Ở do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp vào ngày 06/7/2017 đối với thừa 196, tờ bản đồ số 14.
Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 316267 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Trần Phạm Thiên T7 vào ngày 04/02/2021 cấp đối với thửa 196, tờ bản đồ số 14.
Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L về việc:
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do vợ chồng ông Nguyễn Văn Mạnh T2, bà Nguyễn Thị Bích T8 xác lập với Trần Văn T6 và bà Võ Thị Ở vào ngày 09/6/2017.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do vợ chồng ông Trần Văn T6 và bà Võ Thị Ở xác lập với ông Trần Phạm Thiên T7 vào ngày 27/11/2020.
Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do vợ chồng ông Trần Văn T6 và bà Võ Thị Ở xác lập với ông Trần Phạm Thiên T7 vào ngày 07/01/2021.
Buộc ông Nguyễn Văn Mạnh T2 phải bồi hoàn công sức đóng góp cho bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim L (tại thửa đất số 186, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre) mỗi người là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng/người).
Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T, ông Lê Văn H về việc tuyên bố “Văn bản phân chia tài sản thừa kế” lập ngày 22/4/2015, do Ủy ban nhân dân xã T, huyện M ký, đóng dấu ngày 01/6/2015 vô hiệu.
Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T, ông Lê Văn H về việc công nhận cho bà Nguyễn Thị Kim T và ông Lê Văn H là chủ sử dụng hợp pháp của 1315.4m² đất thuộc một phần thửa 186, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 24/02/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M được ký hiệu là thửa 186b.
Buộc ông Nguyễn Văn Mạnh T2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Bích T4, anh Nguyễn Minh T5 thực hiện các thủ tục hoàn chỉnh về hình thực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Kim T và ông Lê Văn H phần đất có diện tích 1315,4m², ký hiện thửa 186b thuộc một phần thửa 186, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre (theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 24/02/2020 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Bến Tre).
Bà Nguyễn Thị Kim T, ông Lê Văn H, ông Nguyễn Văn Mạnh T2 cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Bích T4, anh Nguyễn Minh T5 có nghĩa vụ liên hệ cơ quan có thẩm quyền thực hiện các thủ tục để chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với diện tích 1315,4m², ký hiện thửa 186b thuộc một phần thửa 186, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre cho bà Nguyễn Thị Kim T, ông Lê Văn H theo nội dung đã tuyên như nêu trên theo đúng quy định của pháp luật.
Trường hợp không thực hiện được các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất như nêu trên, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi hoặc điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BX 303144, số vào sổ cấp GCN: CH01168, do Ủy ban nhân dân huyện M cấp cho ông Nguyễn Văn M1 Thủy vào ngày 22/6/2015 (đối với thừa 186, tờ bản đồ số 14) để cấp lại cho các đương sự theo nội dung đã tuyên như nêu trên theo đúng quy định của pháp luật.
Phần đất này hiện bà Nguyễn Thị Kim T, ông Lê Văn H quản lý, sử dụng nên không buộc ông Nguyễn Văn M1 T2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Bích T4, anh Nguyễn Minh T5 giao đất.
Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T, ông Lê Văn H về việc yêu cầu công nhận phần đất có diện tích 204,5m² (được ký hiệu là thửa Ab1 và Ab2 theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất lập ngày 21/7/2022) thuộc một phần của thửa 186, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim T và ông Lê Văn H.
Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim T, ông Lê Văn H về việc buộc ông Nguyễn Văn Mạnh T2 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị Bích T4, anh Nguyễn Minh T5 phải giao trả: Diện tích 2094,3m² đất thuộc thửa đất số 186a và thửa đất ký hiệu là thửa 183b và 183c theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 21/7/2022 ((2614,1 + 163,80 + 14,5) : 4) x 3 = 2094,3m²) thuộc tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M cho ông bà sử dụng.
(Phần đất nêu trên được thể hiện trong Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất và Trích lục bản đồ địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M thực hiện đo vẽ kèm theo – là một phần của bản án, không tách rời bản án).
Các đương sự không còn yêu cầu nào khác, không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị N3, bà Nguyễn Thị Kim T, bà Nguyễn Thị Kim L, ông Lê Văn H là người cao tuổi, được miễn.
Án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch (Đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu ông Nguyễn Văn Mạnh T2 cùng các thành viên trong hộ gia đình thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Kim T và ông Lê Văn H tại thừa 186b): 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), ông Nguyễn Văn Mạnh T2, bà Trần Thị Bích T4, anh Nguyễn Minh T5 phải liên đới chịu.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí (do Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam thu) cho:
Bà Nguyễn Thị Kim T số tiền: 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm ngàn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001055, ngày 09/12/2022; số tiền: 6.135.000 đồng (Sáu triệu một trăm ba mươi lăm ngàn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005656, ngày 07/02/2022; số tiền: 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008020, ngày 09/8/2022; số tiền: 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm ngàn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018813, ngày 27/7/2018.
Bà Nguyễn Thị N3, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L số tiền: 10.701.000 đồng (Mười triệu bảy trăm lẻ một ngàn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018812, ngày 27/7/2018.
Về chi phí tố tụng:
Về lệ phí xem xét, thẩm định, đo đạc, định giá tài sản, thu thập quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trưng cầu giám định, bà Nguyễn Thị Kim T đã nộp: 2.742.000 đồng + 4.650.000 đồng = 7.392.000 đồng, các nguyên đơn chịu.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L, Nguyễn Thị N3, Nguyễn Thị Kim T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn H được miễn.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Mạnh T2 không phải chịu nên được trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001203 ngày 27/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thế Hồng |
Bản án số 334A/2023/DS-PT ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)
- Số bản án: 334A/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu, tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật, tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế di sản do mẹ chết để lại cho 03 chị em là bà Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị Kim L: 1973,9m2 đất thuộc thửa 196, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre ((2631,9 : 4) x 3 = 1973,9m2); 2094,3m2 đất thuộc thửa đất số 186a; thửa đất ký hiệu là thửa 183b và 183c theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 21/7/2022 ((2614,1 + 163,80 + 14,5) : 4) x 3 = 2094,3m2) thuộc tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre;...
