TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 334/2024/HNGĐ-ST
Ngày 10-12-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tuyến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hải
Ông Phạm Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thủy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 282/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 303/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 168/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Đinh Thị H; nơi cư trú: Số A N, L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Thái S; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại Việt Nam: Số A N, L, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Cộng hòa liên bang Đ1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là chị Đinh Thị H trình bày: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Thái S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng vào ngày 18/10/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến cuối năm 2023, anh S sang Cộng hòa Liên bang Đ sinh sống và làm việc, chị H và các con vẫn ở Hải Phòng. Thời gian này vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong việc làm ăn kinh tế dẫn đến thường xuyên cãi vã. Do khoảng cách địa lý xa xôi, tình cảm vợ chồng dần phai nhạt, đến nay không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hai bên gia đình, bạn bè đã nhiều lần hòa giải mâu thuẫn nhưng không đạt kết quả. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Đinh Thị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thái S.
Về con chung: Anh chị có hai con chung là Nguyễn Quang H1, sinh ngày 09/11/2008 và Nguyễn Thái D, sinh ngày 05/9/2012, hiện đang ở với chị H. Ly hôn, chị H đề nghị giao hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị H không biết địa chỉ cụ thể của anh S tại Cộng hòa Liên bang Đ nên không cung cấp được cho Tòa án. Chị được biết anh S vẫn thường xuyên liên lạc về nhà với mẹ đẻ của anh S là bà Ngô Thị T.
Đối với bị đơn là anh Nguyễn Thái S:
Sau khi thụ lý, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã tiến hành tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà Ngô Thị T – là mẹ đẻ của anh Nguyễn Thái S. Tòa án đã thông báo cho bà Ngô Thị T cung cấp địa chỉ cụ thể của anh Nguyễn Thái S ở Cộng hòa Liên bang Đ và yêu cầu bà Ngô Thị T cho biết kết quả về việc bà T đã thông báo cho anh Nguyễn Thái S để gửi lời khai đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị H cho Tòa án. Bà Ngô Thị T trình bày anh Nguyễn Thái S vẫn liên lạc qua điện thoại với gia đình nhưng anh S không cung cấp địa chỉ cụ thể anh Nguyễn Thái S ở đâu. Bà đã thông báo cho anh Nguyễn Thái S về yêu cầu của Tòa án tuy nhiên anh S không thực hiện việc cung cấp địa chỉ và gửi lời khai về cho Tòa án với lý do bận công việc. Anh S trao đổi qua điện thoại với bà T như sau: Anh S đồng ý ly hôn với chị H do xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không tồn tại, anh chị đã ly thân, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Về con chung, anh chị có hai con chung là Nguyễn Quang H1, sinh ngày 09/11/2008 và Nguyễn Thái D, sinh ngày 05/9/2012, hiện đang ở với chị H. Anh S đồng ý giao hai con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung.
Quan điểm của bà Ngô Thị T như sau: Về quan hệ hôn nhân: Anh S và chị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng vào ngày 18/10/2010. Quá trình chung sống đến cuối năm 2023 anh chị nảy sinh mâu thuẫn do không cùng chung quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, anh S sang Cộng hòa Liên bang Đ sinh sống và làm việc, chị H và các con vẫn ở Việt Nam. Gia đình hai bên đã khuyên bảo, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Anh chị sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Bà T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị H được ly hôn anh S theo nguyện vọng của hai bên. Về con chung: Đề nghị Tòa án giao hai con chung cho chị H nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con và về tài sản chung: Bà T không có ý kiến gì.
Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Đinh Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thái S. Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Quang H1, sinh ngày 09/11/2008 và Nguyễn Thái D, sinh ngày 05/9/2012 cho chị Đinh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung và về tài sản chung, chị Đinh Thị H không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết. Ngoài ra đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Đinh Thị H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và con chung với anh Nguyễn Thái S. Bị đơn là anh Nguyễn Thái S có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thành phố Hải Phòng, hiện đang sinh sống ở Cộng hòa Liên bang Đ, nguyên đơn là chị Đinh Thị H hiện nay có nơi cư trú tại thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc vắng mặt của đương sự: Chị Đinh Thị H có đề nghị xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Thái S vắng mặt tại địa phương, sinh sống ở nước ngoài nhưng không cung cấp được địa chỉ cho Tòa án và nguyên đơn biết. Tòa án đã thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng, anh S đã biết các văn bản tố tụng của Tòa án được gửi cho anh S thông qua bà Ngô Thị T nhưng anh S vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Chị H kết hôn với anh Nguyễn Thái S kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng vào ngày 18/10/2010. Theo Điều 9, Điều 11 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào lời khai của chị H và mẹ đẻ của anh S, xét thấy quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2023, nguyên nhân do anh chị bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Qua lời trình bày của mẹ đẻ anh S thì anh S có quan điểm đồng ý ly hôn với chị H do vợ chồng không còn tình cảm. Như vậy nhận thấy mâu thuẫn giữa anh S và chị H đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không tồn tại, anh chị đã ly thân trong một thời gian dài nên cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đinh Thị H đối với anh Nguyễn Thái S.
[4] Về con chung: Anh chị có hai con chung là Nguyễn Quang H1, sinh ngày 09/11/2008 và Nguyễn Thái D, sinh ngày 05/9/2012. Ly hôn, chị H đề nghị giao hai con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy anh S hiện đang ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Con chung Nguyễn Quang H1 và Nguyễn Thái D cùng có nguyện vọng được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn, hiện hai con chung đang ở với chị H, chị H vẫn đảm bảo việc chăm sóc và nuôi dạy các con. Do đó, chị H yêu cầu giao hai con chung cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần được chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H đã được Tòa án giải thích về việc yêu cầu cấp dưỡng cho con là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con tuy nhiên chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy chị H có khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con chung và việc chị H không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, do vậy Tòa án không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung. Nếu các chị H và anh S có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con chung thì anh chị có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
[5] Về tài sản chung: Chị Đinh Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đinh Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Đinh Thị H và anh Nguyễn Thái S được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 273; điểm d khoản 1 Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị H được ly hôn anh Nguyễn Thái S.
- Về con chung: Giao hai con chung là Nguyễn Quang H1, sinh ngày 09/11/2008 và Nguyễn Thái D, sinh ngày 05/9/2012 cho chị Đinh Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị Đinh Thị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
- Về tài sản chung: Chị Đinh Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Đinh Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000765 ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Đinh Thị H đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Chị Đinh Thị H (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Thái S (vắng mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- - VKSND TP Hải Phòng;
- - Cục THADS TP Hải Phòng;
- - UBND phường Đằng Lâm, quận Hải An, thành phố Hải Phòng;
- - Các đương sự (để thi hành);
- - Lưu: HCTP, HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Nguyễn Xuân Tuyến |
Bản án số 334/2024/HNGĐ-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 334/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
