|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 334/2024/HS-ST Ngày 27-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Loan và ông Nguyễn Hữu Long.
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hà Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện VKSND thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Hải Y - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xét xử số 3 - Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 320/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 331/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với:
- Họ và tên: Nguyễn Thị T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 25 tháng 03 năm 1992 tại Bắc Kạn; Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa 12/12; Chức vụ (Đảng, đoàn thể, chính quyền) trước khi phạm tội: Không; Con ông Nguyễn Duy N, sinh năm 1963; Con bà Vũ Thị X, sinh năm 1972; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Chồng: Lường Văn D, sinh năm 1993; Con: có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân: Tại Quyết định số 14/2018/QĐ-TA ngày 17/01/2018, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bị cáo thời hạn 12 tháng. Chấp hành xong ngày 11/12/2018.
- Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/08/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.
- Bị hại: Anh Hoàng Minh Q sinh năm 2003, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Đại P sinh năm 1978, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị T là người nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp, sinh sống lang thang trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên xem ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp đem đi bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân.
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 14/8/2024, Nguyễn Thị T đi lang thang tại khu vực thuộc tổ F, phường T, thành phố T. Khi đến khu nhà trọ của bà Vũ Thị H sinh năm 1964, tại tổ F, phường T, thành phố T thì thấy cổng đang mở. T đi vào bên trong thấy anh Hoàng Minh Q sinh năm 2003, cư trú tại tổ dân phố D, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên đang nằm ngủ trong phòng, xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát: 20M3-9620 dựng ở hành lang, gần cổng. T tìm quanh khu vực phòng trọ của anh Q thấy có chìa khóa xe để ở trên bàn gỗ trước cửa phòng. T đem chìa khóa ra thử thì mở được khóa xe. T quay lại trước cửa phòng anh Q tháo 01 vỏ bình gas (loại bình 12 kg) bề ra xe mô tô biển kiểm soát: 20M3-9620 khởi động rồi điều khiển xe mô tô chở bình gas đến khu vực tổ F, phường T, thành phố T bán vỏ bình gas cho một nam giới không rõ lai lịch với giá 150.000 đồng rồi dùng số tiền này mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân hết. Để tránh bị mọi người phát hiện, T tháo tấm biển kiểm soát: 20M3-9620 ra khỏi xe và đem vứt bỏ ở khu vực tổ A, phường T, thành phố T rồi gắn biển kiểm soát 97B1-242.25 vào T nhặt được trước đó) vào xe để sử dụng làm phương tiện đi lại. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, anh Q ngủ dậy phát hiện bị mất xe nên đến Công an phường T, thành phố T trình báo sự việc. Ngày 21/8/2024, tổ công tác Công an xã Đ, huyện B, tỉnh Thái Nguyên tuần tra kiểm soát trên địa bàn xã phát hiện T đang điều khiển chiếc xe mô tô gắn biển kiểm soát: 97B1-242.25 đi trên đường. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, phát hiện xe mô tô T điều khiển là tang vật của vụ án nên chuyển Công an thành phố T để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 170/KL- HĐĐGTS ngày 11/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận về giá của tài sản tại thời điểm ngày 14/08/2024: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu đỏ xám, biển kiểm soát: 20M3-9620, số khung: Y156342, số máy: C12E-0296953, đã qua sử dụng có giá trị là 2.500.000 đồng và 01 vỏ bình gas loại 12kg, đã sử dụng có giá trị là 120.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 2.620.000 đồng.
Cáo trạng số 327/CT-VKSVN ngày 01/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã trình bày bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Nguyễn Thị T từ 9 đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam 22/08/2024. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) chiếc biển kiểm soát: 97B1-242.25 đã qua sử dụng. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận với Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội.
Xét thấy lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Lời khai của người bị hại; Biên bản xác định hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 14/8/2024 tại tổ F, phường T, thành phố T, Nguyễn Thị T đã thực hiện hành vi lén lút, trộm cắp 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 20M3-9620 là tài sản của ông Hoàng Đại P trị giá: 2.500.000 đồng và 01 chiếc vỏ bình ga loại 12kg màu xanh là tài sản của anh Hoàng Minh Q trị giá: 120.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Nguyễn Thị T trộm cắp là 2.620.000 đồng.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật quy định.
[3]. Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi đã gây ra. Đồng thời, cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.
[4]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo thấy:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra giải quyết vụ án xác định bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng:
- 01 (một) chiếc biển kiểm soát 97B1-242.25 đã qua sử dụng. Đây là đồ vật của ông Hoàng Bá T1 bị rơi mất, quá trình điều tra ông T1 khai đã làm thủ tục cấp lại chiếc biển kiểm soát nêu trên theo quy định và không yêu cầu trả lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Tại cơ quan điều tra ông Hoàng Đại P đã nhận lại tài sản là xe mô tô biển kiểm soát: 20M3-9620; anh Hoàng Minh Q không yêu cầu bị cáo phải bồi thường 01 (một) vỏ bình gas 12 kg màu xanh đã sử dụng (không thu hồi được) có giá trị là 120.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8]. Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9]. Trong vụ án này, T khai có sử dụng chất ma túy, xét nghiệm chất ma túy đối với T bằng thanh thử loại Drug Test cho kết quả dương tính với M. Tuy nhiên, quá trình điều tra không xác định được địa điểm cụ thể và không có người chứng kiến việc T sử dụng ma túy. Do vậy, không có đủ căn cứ để ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Đối với vỏ bình gas 12 kg màu xanh, đã sử dụng T khai bán cho một người không quen biết và sử dụng tiền để mua ma túy của một người không quen biết. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của những người trên nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với chiếc biển kiểm soát: 97B1-242.25, quá trình xác minh xác định chủ đăng ký là ông Hoàng Bá T1 sinh năm: 1976, địa chỉ: thôn B, xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Ông T1 khai nhận chiếc biển kiểm soát nêu trên là của xe mô tô do ông T1 làm chủ sở hữu, quá trình sử dụng phương tiện biển kiểm soát đã bị rơi mất. Ông T1 đã làm thủ tục cấp lại chiếc biển kiểm soát nêu trên theo quy định.
[10]. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà hôm nay về áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, khung hình phạt và các vấn đề liên quan trong vụ án đối với bị cáo là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 136, 299, 329, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
-
Về hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Thị T 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/8/2024.
Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Thị T trong thời hạn 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
-
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc biển kiểm soát: 97B1-242.25 đã qua sử dụng.
(Vật chứng đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, có đặc điểm và tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục THADS thành phố T số 43 ngày 21/11/2024).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Hương |
Bản án số 334/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 334/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thảo phạm tội trộm cắp tài sản
