|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 334/2024/HS-PT
Ngày: 17-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang.
Các Thẩm phán:
- Bà Lê Thị Thương Huyền
- Bà Mai Trần Cảnh
Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 281/HSPT ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Hữu T có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 127/HS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hữu T sinh ngày 14/9/1991 tại Tiền Giang Thường trú: J7 Cư Xá P, Phường A, Quận F, Tình phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 12/63 TL27, tổ E, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Trọng tài bóng đá; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Hữu P bà Nguyễn Thị Á (đã chết); Bị cáo có vợ tên Tạ Thị Ngọc  và 01 con sinh năm 2021 Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo tại ngoại Có mặt.
- Người bào chữa:
Ông Nguyễn Tri Đ là luật sư của Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu T – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty Cổ phần D (gọi tắt là Công ty D) có trụ sở tại địa chỉ số D X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và có địa điểm kinh doanh tại địa chỉ số A đường T, phường T, Quận A. Từ năm 2020, Công ty D tuyển dụng nhân viên làm nhiệm vụ giao hàng và nhận tiền từ khách hàng mang về cho Công ty (thường gọi là: Shipper).
Ngày 05/10/2020, Công ty D ký hợp đồng lao động số 2046101/2020/HDDV/GHN với Nguyễn Hữu T, mức lương theo thỏa thuận là 5.400đồng/đơn hàng giao thành công. Trong hợp đồng lao động nêu trên, Công ty D cho T thực hiện nhiệm vụ giao hành cho khách hàng và nhận tiền từ khách hàng mang về cho Công ty tại địa điểm kinh doanh tại Quận A.
Đến ngày 14/10/2020, do cần tiền trả nợ nên Nguyễn Hữu T nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của Công ty D thông qua việc chiếm đoạt số tiền thu được từ khách hàng sau khi giao hàng. Cụ thể: Ngày 14/10/2020, sau khi đến địa điểm kinh doanh của Công ty D tại phường T, Quận A và tiếp nhận nhiệm vụ giao tổng cộng 79 đơn hàng thì T điều khiển xe mô tô của T (chưa rõ biển số) chở số đơn hàng nêu trên đi giao cho các khách hàng trên địa bàn Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo địa chỉ và số điện thoại người nhận do Công ty cung cấp. Sau khi đã giao thành công được 47 đơn hàng với tổng số tiền là 13.695.414 đồng thì T chỉ đưa về cho Công ty số tiền 2.605.414 đồng và kèm theo 32 đơn hàng chưa giao, còn số tiền 11.090.000 đồng thì T chiếm đoạt rồi bỏ trốn.
Sau đó, Công ty D trình báo việc tham ô tài sản của Nguyễn Hữu T đến Công an Q. Ngoài tố giác Nguyễn Hữu T thì Công ty D còn tố giác hành vi tham ô tài sản của Nguyễn Đăng K, Trần Văn V, Nguyễn Văn L và Đoàn Cao T2.
Tại cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Q, T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 127/2024/HS-ST ngày 18-6-2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu T phạm tội “Tham ô tài sản”.
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 353; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Cấm bị cáo thực hiện nhiệm vụ giao hàng và nhận tiền từ khách hàng trong thời hạn 01 năm.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Ngày 01/7/2024, bị cáo Nguyễn Hữu T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu T bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Bị cáo khai nhận hành vi lợi dụng nhiệm vụ là nhân viên giao hàng của Công ty D nhận tiền thu hộ từ khách hàng nhưng không giao về công ty và chiếm đoạt số tiền 11.090.000 đồng như bản án sơ thẩm đã quy buộc. Bị cáo chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo để đi làm nuôi vợ, con nhỏ và cha già.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, mức hình phạt là phù hợp. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết là quân nhân xuất ngũ, đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; gia đình có ông nội Nguyễn Văn C là người có công nên đề nghị áp dụng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư Nguyễn Tri Đ bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu T trình bày: Luật sư thống nhất về tội danh và điều luật mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, về mức hình phạt luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh, điều kiện phạm tội của bị cáo, đồng thời, cơ quan tố tụng cũng chưa ghi nhận hành vi bị cáo cùng đại diện Công ty thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại. Về tình tiết giảm nhẹ, đề nghị xem xét đến hoàn cảnh gia đình của bị cáo hiện rất khó khăn, bị cáo cùng lúc phải làm việc chăm sóc sân cỏ và làm trọng tài tại sân Thống Nhất, để chăm sóc cha già mất khả năng lao động, cô ruột mắc bệnh tâm thần, vợ mắc bệnh ung bứu, con còn nhỏ. Từ đó, luật sư đề nghị áp dụng điểm i, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), giữ nguyên hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo đồng ý quan điểm bào chữa của luật sư và bào chữa bổ sung: Việc xác định tạm trú do sau khi dịch bệnh Covid19, phía cho thuê nhà không thể hỗ trợ nên bị cáo buộc phải chuyển đi. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo để cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát tranh luận với luật sư: Về tình tiết bị cáo là bộ đội xuất ngũ, có hoàn cảnh khó khăn đã được Viện kiểm sát xem xét và đề nghị áp dụng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng là phù hợp nên Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.
Kết thúc phần tranh luận các bên đều bảo lưu quan điểm như đã trình bày.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét đến nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T về nội dung quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân Quận A, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân Quận 12, Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Hữu T tại phiên tòa phúc thẩm, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định:
[3.1] Nguyễn Hữu T nhân viên giao hàng của Công ty Cổ phần D, có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc giao đơn hàng cho khách hàng, nhận tiền từ khách hàng, rồi nộp về công ty theo Hợp đồng lao động đã ký kết giữa bị cáo với Công ty D. Ngày 14/10/2020, lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn được Công ty giao, Nguyễn Hữu T đã thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền 11.090.000 đồng, liên quan đến 47 đơn hàng giao thành công, rồi tiêu xài cá nhân hết và bỏ trốn.
[3.2] Hành vi nêu trên của Nguyễn Hữu T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản”. Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số: 127/2024/HS-ST ngày 18-6-2024 của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.
[4] Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Hữu T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[4.1] Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “bồi thường thiệt hại” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài thể hiện bản thân đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự theo Quyết định số: 3408/QĐ-XN ngày 25/01/2013 của T3 thuộc Bộ Tư Lệnh Thành phố H và bị cáo có ông nội là Nguyễn Văn C là người có công, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng 3. Đây là các tình tiết mới phát sinh cấp phúc thẩm nên xem xét áp dụng thêm quy định giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4.2] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên xét có căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4.3] Đối với nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo được giao nhiệm vụ, quyền hạn thu tiền của khách hàng và giao lại cho công ty nhưng đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn của mình để cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nên cần buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập trở thành người có ích cho xã hội mới đảm bảo nguyên tắc xử lý người phạm tội theo quy định tại Điều 3 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4.4] Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T và sửa bản án sơ thẩm.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Bị cáo không chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hữu T và sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Hương Giang |
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án số 334/2024/HS-PT ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tham ô tài sản)
- Số bản án: 334/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu T bị Tòa án cấp phúc thẩm xử phạt về tội Tham ô tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 353 của BLHS
